Total Pageviews

Once sailor, forever sailor

Monday, August 4, 2014

Trận Chiến Mới Giữa Do Thái và Hamas

hay là Vì sao viễn tượng hoà bình tại Trung Đông càng 
xa vời

Vào sáng thứ Hai 28-7 đầu tuần qua, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc là ông Ban Ki-moon đã nhấn mạnh một lần nữa lời kêu gọi của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cho “một cuộc ngưng bắn tức thời và vô điều kiện vì lý do nhân đạo” trong cuộc chiến tại dải Gaza.

Trong một cuộc họp khẩn cấp kéo dài đến tối khuya Chủ Nhật hôm trước, Hội Đồng này đã thông qua một lời nhận định mạnh mẽ nhất về cuộc chiến này, dưới hình thức “một bản thông báo cấp tổng thống” (presidential statement) lên tiếng yêu cầu đôi bên hãy tức thời ngưng bắn để có thể thực hiện được một cuộc trợ giúp và cứu trợ cần thiết cho khối dân Palestine khốn khổ đang nằm trong hai lằn lửa đạn.
Theo lời của ông Mahmoud Hmoud là phó đại sứ tại Liên Hiệp Quốc của Jordan, vốn là quốc gia đệ trình bản thông báo này, thì đây là bản lên tiếng chính thức đầu tiên của Hội Đồng Bảo An liên quan đến cuộc xung đột giữa Do Thái và Palestine kể từ tháng Giêng năm 2009, khi đưa ra lời kêu gọi phía Do Thái hãy lập tức ngưng bắn và rút quân ra khỏi vùng Gaza, cũng sau một cuộc tấn công đẫm máu với lực lượng Hamas.
Trong quá khứ, cơ quan thẩm quyền tối cao của Liên Hiệp Quốc thường bị chia rẽ nặng nề trong các hồ sơ liên quan đến hai nước Do Thái và Palestine, với phần lớn là Hoa Kỳ, quốc gia đồng minh quan trọng nhất của Do Thái, luôn luôn tìm cách ngăn chặn hoặc dùng quyền phủ quyết để loại bỏ tất cả những lời thông báo chính thức hoặc những quyết nghị (resolution) do phía Palestine hoặc các quốc gia ủng hộ đưa ra.
Những bản thông báo cấp tổng thống trở thành văn kiện chính thức của Hội Đồng Bảo An. Nó mang một tầm mức quan trọng chỉ thấp hơn một quyết nghị, nhưng phải được nhất trí thông qua bởi tất cả 15 thành viên trong Hội Đồng. Tuy nó không nêu đích danh Hamas hay Do Thái, nhưng bản thông báo cũng nêu lên sự quan tâm sâu xa về tình hình nghiêm trọng về số nạn nhân tử nạn và thương vong, cũng như tình trạng thê thảm cho khối dân gần 2 triệu người đang lâm vào cảnh nguy nan cần phải được cứu giúp.
Điều trớ trêu là cả hai kẻ thù không đội trời chung này đều bầy tỏ sự đồng thuận khi cùng lên tiếng chỉ trích bản thông báo này. Theo lời tường thuật của ký giả Edith Lederer đăng trên bài báo của hãng thông tấn AP đề ngày 28-7 thì cả Do Thái lẫn Palestine đều cho rằng lời lẽ của bản thông báo này quá yếu vì đã không mạnh mẽ lên án phía bên kia.  Riêng ông Ban Ki-moon thì kết tội cả Thủ Tướng Benjamin Netanyahu của Do Thái cũng như thủ lãnh Khaled Mashaal của phía Hamas là những kẻ vô trách nhiệm và “vô luân” (morally wrong) trong việc để cho dân quân của cả hai phe đều bị giết chết trong cuộc xung đột này. Ông kêu gọi họ hãy chứng tỏ một bản lãnh chính trị và một đức tính chỉ huy có lòng vị tha để có thể chấm dứt sự khổ đau của những người dân đã quá mỏi mệt vì chiến tranh dai dẳng triền miên.  
Cuộc chiến khốc liệt này chỉ tạm ngừng trong vòng 12 tiếng trong ngày thứ Bảy cho lý do nhân đạo theo như yêu cầu của Liên Hiệp Quốc, để rồi lại nổ bùng trở lại trong ngày Chủ Nhật. Sau đó, chiến cuộc đã gia tăng cường độ một cách nhanh chóng và khốc hại hơn nữa với hậu quả có phần tác hại xấu cho Do Thái về mặt công luận quốc tế khi đạn pháo của họ bắn trúng vào một ngôi trường do Liên Hiệp Quốc điều hành làm nơi lánh nạn cho thường dân, khiến 19 người dân Palestine bị thiệt mạng. Trong lúc đó, Hoa Kỳ tiếp tục lên tiếng ủng hộ quyền bắn trả của Do Thái, cũng như gia tăng viện trợ súng đạn cho đồng minh này, càng dễ khơi lại lòng thù hận từ khối dân Hồi giáo và Ả Rập. Ngay cả trong nội địa nước Mỹ, nhiều cuộc biểu tình nổ ra từ Los Angeles cho đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn, ngay trước cổng của Toà Bạch Ốc, để phản đối thái độ của Hoa Kỳ cũng như chỉ trích hành động mạnh tay hiếu chiến của Thủ tướng Do Thái là ông Netanyahu. 
Sau đó, hai phía đã đồng ý một cuộc ngưng bắn dài 72 tiếng bắt đầu từ ngày 1 tháng 8, một sự kiện mà Ngoại Trưởng John Kerry đã gọi là “một cú thở phào nhẹ nhõm”. Tuy nhiên, chỉ 90 phút sau khi lệnh ngưng bắn được thực hiện, chiến sự lại khởi động khi quân du kích Hamas bỗng xuất hiện để tấn công lính Do Thái, giết chết 2 người và bắt một sĩ quan là Hadar Goldin làm con tin. Sau đó, hoả tiễn của Hamas cũng bắn về phía Do Thái. Để trả đũa, phía Do Thái cũng quyết định huỷ bỏ lệnh ngưng bắn, mở các cuộc dội bom tấn công dữ dội, nhất là quanh vùng mà phía Hamas đang giữ tù binh, gây thiệt mạng ít nhất cho hơn 112 người Palestine.
Cho đến nay, cuộc chiến đã kéo dài đến 4 tuần lễ, để lại hậu quả thê thảm cho cả đôi bên. Phía Palestine có hơn 1,700 người bị thiệt mạng, phần lớn là thường dân. Còn phía Do Thái cũng có 66 quân nhân bị tử thương và 3 thường dân bị thiệt mạng trong đó có một người là công dân của Thái Lan.
Sự việc hai phe và các nước quan tâm đã phải rất chật vật để đạt được một cuộc ngừng bắn tạm thời rất ngắn hạn đã cho thấy viễn tượng đạt được một cuộc đình chiến lâu dài quả là điều rất mong manh hay vô vọng. Và cứ mỗi lần có thêm một người ngã gục hay bị thương vong, thì những mầm mống của hận thù và ngờ vực lại càng được gieo xuống nhiều hơn ở mỗi phía. Tình trạng này sẽ dẫn đến một cảm nhận bi quan càng ngày càng tăng dần đối với người dân trên đường phố cũng như đối với giới lãnh đạo đang cầm quyền ở cả hai phe. 
Tuy không nói ra, nhưng sự bi quan này có lẽ cũng là cảm nhận chung của bộ tham mưu của Tổng thống Obama, đặt việc mưu cầu một nền hoà bình ổn định tại vùng Trung Đông như là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Và cũng tương tự như những vị tổng thống tiền nhiệm từ nhiều thập niên qua, ông Obama cũng thấy rằng đây là một nan đề nhức nhối mà họ đôi khi cũng cảm thấy bất lực vì không tìm ra một giải pháp ổn thoả cho cả hai phía.
NGUỒN GỐC CUỘC CHIẾN ĐÃ CÓ TỪ LÂU
Khách quan mà nói, cuộc chiến giữa Do Thái và các quốc gia khối Ả Rập đã sớm bắt đầu nẩy mầm ngay sau khi Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đề ra vào tháng 11-1947 kế hoạch phân chia vùng đất Palestine thành 3 vùng: một quốc gia Ả Rập, một quốc gia Do Thái và một Vùng Quản Trị Quốc Tế Đặc Biệt để cai quản thành phố Jerusalem. Vào ngày 14-5-1948, thủ lãnh Ben-Gurion tuyên bố thành lập quốc gia tân lập Do Thái, thì đúng vào ngày hôm sau, các đạo quân của các lân bang Ả Rập đã mở cuộc tấn công. Cuộc chiến này có thể gọi là cuộc chiến giành độc lập cho Do Thái, kéo dài trong 10 tháng, với con số thiệt mạng khá cao (khoảng 6,370 người phía Do Thái và khoảng từ 7,000 đến 20,000 người phía Ả Rập và Palestine).
Nhưng kết quả là chiến thắng lớn của phe Do Thái sau khi họ giữ vững được tất cả những vùng được chỉ định phân chia theo Quyết Nghị của Liên Hiệp Quốc, và còn chiếm thêm được khoảng 60% phần đất được chỉ định cắt cử cho quốc gia Ả Rập. Nhưng không có một quốc gia Palestine Ả Rập nào được thành hình từ sau cuộc chiến này. Nó cũng dẫn đến những thay đổi về dân số khá quan trọng trong vùng cũng như trên nhiều nước trong toàn vùng Trung Đông. Có khoảng 700,000 người dân Palestine đã phải chạy tản cư hoặc bị trục xuất ra khỏi nơi cư trú của họ giờ đây đã trở thành vùng đất của Do Thái. Ngược lại, trong vòng 3 năm sau đó, cũng có khoảng 700,000 dân gốc Do Thái đến nhập cư tại đây, với 1/3 là những người chạy tản cư hoặc bị trục xuất từ những nước trong vùng Trung Đông.
Từ đó đến nay, Do Thái cũng đã trải qua nhiều cuộc đụng độ với các nước láng giềng Ả Rập, và từ đó đã chiếm thêm nhiều vùng đất như vùng Tây Ngạn (sông Jordan), bán đảo Sinai (trong khoảng từ 1962 đến 1982), một phần miền nam của Lebanon (từ 1982 đến 2000), dải Gaza và đồi Golan. Sau nhiều cuộc điều đình dưới áp lực cũng như sự thúc hối của phía Hoa Kỳ, Do Thái cũng đã ký những hiệp ước hoà bình với các quốc gia cựu thù như Ai Cập và Jordan, nhưng cho đến nay, những cố gắng giải quyết sự xung đột giữa Do Thái và Palestine vẫn tiếp tục lâm vào đường bế tắc.
Trong thời Chiến Tranh Lạnh giữa hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Sô thống lãnh hai khối Tự Do và Cộng Sản, Hoa Kỳ luôn ủng hộ Do Thái với quân viện dồi dào để giúp cho nước này có ưu thế vượt trội hòng đối đầu một cách hiệu quả với kẻ thù gồm nhiều quốc gia đông dân hơn. Tuy vậy, Hoa Kỳ không bị coi là kẻ thù chung của cả khối các quốc gia Ả Rập và Hồi Giáo. Nhưng kể từ sau ngày khối Cộng Sản tan rã và Hoa Kỳ mặc nhiên trở thành đại cường quốc trên thế giới, thì sự oán ghét của các nước Ả Rập và Hồi Giáo lại bỗng nhiên đổ dồn vào mình, nhất là sau khi Hoa Kỳ cứ luôn luôn ủng hộ Do Thái một cách gần như tuyệt đối, bất kể phải trái trong cuộc xung đột không cân xứng giữa một nước Do Thái hùng mạnh và một khối dân Palestine nghèo đói và tuyệt vọng.
Có lẽ điều này cũng là một phần của nguyên nhân dẫn đến biến cố khủng bố của ngày 11 tháng 9 năm 2001 làm thay đổi cục diện của Hoa Kỳ cũng như của cả thế giới; rồi từ đó dẫn đến cuộc chiến tấn công và sau đó sa lầy tại Iraq dưới thời TT Bush Con khiến cho người dân Mỹ ngày nay đã cảm thấy mỏi mệt vì hao tổn quá nhiều công sức, tiền bạc và nhân mạng nhưng lại chẳng mang về những thành quả khả quan nào cho người dân và quốc gia Hoa Kỳ. Đó là chưa kể nỗi ám ảnh về một cuộc tấn công khủng bố có thể nổ ra bất kỳ nơi đâu và bất cứ lúc nào trong tương lai, làm thay đổi nếp sống và sinh hoạt trong xã hội.
Trong tinh thần đó, việc mưu cầu một giải pháp hoà bình ổn định tại vùng Trung Đông cùng lúc với việc rút quân ra khỏi hai chiến trường Iraq và A Phú Hãn của chính quyền Obama có thể được xem như là một giải pháp khôn ngoan để giảm bớt mối nguy cho Hoa Kỳ từ khối Ả Rập và Hồi Giáo, để còn có thể đối phó với nhiều mối nguy khác đến từ nhiều phía như Trung Cộng (biến động tại Biển Đông), Nga Sô (vụ tranh chấp tại Ukraine) v.v. . . Dĩ nhiên, những thành phần chống đối quá khích ông Obama ngay từ ngày đầu thì đã không nhìn những sự việc trên dưới cái nhìn khách quan, mà chỉ luôn miệng chê bai hoặc chỉ trích với những luận cứ hoặc thông tin sai lạc như khi cho rằng ông Obama hèn nhát, bất lực, hoặc tệ hơn nữa, là bắt tay với kẻ thù Hồi-giáo v.v. . .
Trong bối cảnh khó khăn đầy rẫy hiện nay cho Hoa Kỳ, cuộc chiến với Hamas lần này quả thật khiến cho chính quyền Obama rất khó xử. Mặc dù phía Hoa Kỳ vẫn lên tiếng xác nhận sự ủng hộ đối với Do Thái, cho rằng quân đội này có quyền tự vệ để chống trả lại các đợt phóng hoả tiễn của phía Hamas, nhưng các viên chức chính quyền Mỹ cũng bầy tỏ sự lo ngại của họ trước con số các thường dân bị thiệt mạng tại Gaza, trong đó có nhiều trẻ em. Toà Bạch Ốc cũng nhấn mạnh đến sự kiện ông Obama, trong một cuộc nói chuyện riêng với ông Netanyahu vào tối Chủ Nhật, đã nói thẳng rằng Hoa Kỳ đang có sự lo ngại nghiêm trọng càng ngày càng lớn dần trước tình hình bi thảm cho thường dân tại Gaza. Có lẽ vì vậy mà phía Hoa Kỳ đã đồng ý ủng hộ trong bản “thông báo cấp tổng thống” của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc yêu cầu đôi bên cùng ngưng bắn tức thời.
Trong thập niên qua, Do Thái và Hamas đã đụng độ ít nhất là 10 lần trong các trận chiến lớn nhỏ. Cứ mỗi lần đụng trận là dẫn đến sự thiệt mạng và thương vong của rất nhiều thường dân vô tội, càng khiến cho những nỗ lực hoà giải càng khó khăn hơn, và đồng thời cũng dọn đường cho những cuộc tấn công có thể đẫm máu hơn trong tương lai.
CƯỜNG ĐỘ KHỐC HẠI CỦA CUỘC CHIẾN LẦN NÀY
Theo nhà báo Oren Dorell, trong một bài phân tích đăng trên tờ USA Today ngày 24-7 vừa qua thì cuộc chiến lần này mang nhiều tính chất đặc biệt, nhất là việc vũ khí đôi bên càng ngày càng tối tân hơn.
* Hamas tuy là một lực lượng dân quân đạt được sự ủng hộ chính thức của người dân tại địa phương qua những cuộc bầu cử tự do chính thức để lên nắm quyền tại dải Gaza, nhưng lại bị Hoa Kỳ coi là một tổ chức khủng bố nên không thừa nhận. Trong cuộc chiến đối đầu với Do Thái, Hamas dĩ nhiên không thể ngang nhiên dùng lối chiến tranh quy ước mà phải đi theo con đường du kích chiến, sử dụng các loại hoả tiễn để bắn vào các khu dân cư của Do Thái nhằm gây phản ứng bất ổn cho người dân, tương tự như kiểu của du kích Việt Cộng ngày xưa hay pháo kích hoả tiễn 122 ly gây hoang mang một thời tại thủ đô Sàigòn.
Nhưng lần này, Hamas đã cho sử dụng các loại hoả tiễn có tầm xa đến 100 dặm, coi như có thể ảnh hưởng đến đời sống tại nhiều thành phố lớn cũng như trung tâm văn hoá và tài chánh là Tel Aviv hoặc ngay cả thủ đô Jerusalem. Theo lời của Trung tá Peter Lerner là phát ngôn viên của quân đội Do Thái thì lần này phe Hamas đã được tăng cường một loại hoả tiễn do Syria chế tạo có tầm xa rất cao, được coi là một ưu thế đáng ngại. Vào tuần trước, một hoả tiễn đã tiêu huỷ một căn nhà ở Yahud, nằm sát phi trường quốc tế Ben Gurion, cũng khiến cho tất cả các chuyến bay từ Hoa Kỳ và một số từ Âu Châu cũng phải bị đình chỉ, một điều chưa hề xảy ra sau khi có cuộc chiến tại vùng Vịnh Ba Tư lần đầu vào năm 1991.
Ngoài ra, các lực lượng du kích cũng thủ đắc được những loại vũ khí chống chiến xa, khiến cho việc đổ bộ binh sĩ Do Thái lên vùng này để tiêu diệt quân Hamas trở nên khó khăn hơn.
* Ngược lại, phía Do Thái cũng được tăng cường bởi một màn lưới chống phi đạn rất tối tân và hiệu nghiệm được mang tên là Vòm Sắt (Iron Dome). Đây là hệ thống phi đạn có nhiệm vụ được phóng lên để tiêu diệt các phi đạn tấn công đang nhắm hướng đến Do Thái. Hệ thống này đã được triển khai trong những cuộc chiến Hoa Kỳ tấn công Iraq trước đây để phòng ngừa việc Iraq cho quân phóng phi đạn sang Do Thái nhằm gây bất ổn. Hệ thống này giờ đây khá tối tân để có thể chặn đứng đến 90% các hoả tiễn của Hamas nhắm bắn vào Do Thái. Nó còn tinh vi đến mức có thể xác nhận xem hoả tiễn nào đang nhắm tiến đến các khu dân cư để có thể phóng ra phi đạn để huỷ diệt, trong khi để cho các hoả tiễn khác rơi xuống đất ở những nơi không có dân cư để đỡ phí đạn một cách vô ích!
Theo lời nhận định của ông Aaron David Miller, một cựu viên chức phụ tá cho các ngoại trưởng Mỹ trước đây, thì ưu thế của Vòm Sắt này đã giúp cho chính quyền của ông Netanyahu có thêm thì giờ để có thể rộng tay hoạt động trong trường hợp cuộc chiến kéo dài.
* Vì phải chủ trương theo đường lối du-kích-chiến, phía Hamas, cũng như tổ chức Hezbollah ở Lebanon, bắt buộc phải sử dụng hệ thống các đường hầm trong việc vận chuyển vũ khí và quân lính, tựa như hệ thống địa đạo ở Củ Chi mà phía Việt Cộng thường hay khoe khoang sau này. Chính Ngoại trưởng John Kerry cũng xác nhận rằng những toán du kích của Palestine được trang bị vũ khí đầy đủ đã bị chặn bắt tại nhiều đường hầm xâm nhập vào các thị trấn có cư dân Do Thái cho thấy là bọn chúng có mang theo cả những thuốc mê và còng tay, với ý đồ bắt cóc nhiều người Do Thái để làm con tin.   
Theo ông Miller thì tuy đã biết từ lâu về hệ thống địa đạo và đường hầm như là một phần chính yếu trong chiến lược của Hamas, nhưng phía Do Thái lần này quả thật kinh ngạc trước sự lớn mạnh và tinh vi của hệ thống đường hầm này. Để đối phó lại, Do Thái đã quyết định mở cuộc hành quân đổ bộ dọc theo biên giới dài khoảng 2 dặm để tiêu diệt các ổ xâm nhập này. Nhưng giải pháp này có thể mang lại nhiều hậu quả bất lợi và rủi ro cho Do Thái vì các binh sĩ dễ dàng bị thiệt mạng trong khi phe dân quân Hamas có thể trà trộn lẫn với cư dân trong vùng để có thể tấn công bất cứ lúc nào.
* Thiệt mạng đôi bên. 
Trong những cuộc chiến giữa hai phía Do Thái và Palestine, Do Thái được coi như là anh khổng lồ với ưu thế vượt trội về vũ khí, trong khi phe Palestine dựa vào tinh thần quyết chiến của các đội cảm-tử-quân, sẵn sàng “thí mạng cùi”. Trong chiều hướng đó, sự thiệt mạng về binh sĩ của Do Thái phải coi như là một thiệt hại đáng kể, tựa như sự thiệt mạng của quân nhân Hoa Kỳ so với cái chết của các kẻ thù khác.
Lần này, tuy phe Palestine có hơn 1,700 người chết nhưng phía Do Thái cũng bị thiệt mạng đến 66 quân nhân và 3 thường dân. Yếu tố này cũng ảnh hưởng đến tâm lý của người dân tại Do Thái nếu như cuộc chiến này kéo dài và Do Thái cũng không đạt được một thành quả hay thắng lợi rõ rệt nào trong những cuộc đụng độ với Hamas hay Hezbollah trong quá khứ, vốn là những tổ chức dân quân khó đối phó hơn là đối với các quốc gia như trong một cuộc chiến tranh quy ước.
Hậu quả hiện nay là tình hình có phần bi quan đối với người dân và chính quyền tại Do Thái trong những ngày tháng tới, nhưng cũng đồng thời khá bi quan cho Hoa Kỳ khi mà một trong những ưu tiên trong chính sách ngoại giao của TT Obama để mưu cầu một nền hoà bình ổn định tại Trung Đông xem chừng đã thất bại.
Trong một cuộc họp để thảo luận về các đề tài an ninh và khủng bố diễn ra vào cuối tuần qua tại tiểu bang Colorado có tên là Aspen Security Forum, một vài viên chức cao cấp của Hoa Kỳ đã đưa ra một vài nhận định bi quan khá thẳng thừng. Chẳng hạn như người cầm đầu Tổng Cục Quân Báo (Defense Intelligence Agency) của Hoa Kỳ là Trung Tướng Michael Flynn đã nói rằng tình hình bất ổn hiện nay trong vùng Trung Đông có lẽ sẽ còn kéo dài trong nhiều năm nữa. Tướng Flynn nói thẳng rằng có lẽ trước khi nhắm mắt ông sẽ không được nhìn thấy hoà bình tại vùng Trung Đông.
Tuy nhiên theo Tướng Flynn thì Do Thái cũng phải tính toán cẩn thận trong việc sử dụng sức mạnh quân sự để có thể trừng phạt phe Hamas nhưng không thể tiêu diệt hoàn toàn. Bởi vì nếu như nó bị tiêu diệt, thì tình hình lại sẽ trở nên tồi tệ hơn nhiều, nguy hiểm hơn nhiều, bởi vì vùng đất Gaza sẽ lại dễ dàng rơi vào tay của một tổ chức khủng bố quá khích khác đang kiểm soát nhiều vùng đất tại Syria và Iraq (tự xưng là tổ chức ISIS, tức là vương quốc Hồi giáo tại Iraq và Syria).
Cũng trong cuộc hội thảo này, một cựu viên chức cao cấp khác là ông Robert Mueller, cựu tổng giám đốc FBI, đã đưa ra lời cảnh cáo rằng tình hình bạo động tại Gaza hiện nay chắc chắn sẽ lại càng hâm nóng trở lại tinh thần “chống Mỹ cứu nước” rất phổ biến và lan tràn tại nhiều nơi trong vùng, và có thể dẫn đến nhiều mối nguy cho Hoa Kỳ trong tương lai. Ông Mueller nói rằng chúng ta đừng quên rằng những gì đang xảy ra tại Gaza ngày nay sẽ là động cơ khiến cho nhiều tay Hồi giáo quá khích sẵn sàng gia nhập vào các đạo quân Hồi giáo để được huấn luyện và lao mình vào những cuộc chiến với sứ mạng đầy hoang tưởng của một cuộc “thánh chiến”.
MAI LOAN
 nguồn: diendantheky.net

Vu That

No comments: