Sunday, May 17, 2026

Thương Thuyền Nhựt Lệ: 1966-1969


Thương Thuyền Nhựt Lệ
Hôm nay tôi đăng lại câu chuyện về chiếc tàu cuối cùng tôi chỉ huy trong 3 năm. Ba năm trời ăn ngủ trên những khoang chứa bom đạn và chất nổ. 10 năm đi biển trên 7 chiếc tàu khác nhau, trên 6 chiến hạm chỉ phục vụ từ 1 tới 2 năm.
Nhựt Lệ là soái hạm của hạm đội thương thuyền của Bà Nhu là chiếc tàu lớn nhất trong 5 chiếc. Các chiếc nhỏ hơn là Thống Nhất, Tiền Phong, Đại Hải, và Phú Quốc. Khi TT Diệm và ông Nhu bị ám sát thì các thương thuyền này bị trưng dụng và được trao cho Nha Hỏa Xa sử dụng vì các chuyến xe lửa bị tấn công, không hoạt động được.
Nhựt Lệ có trọng tải 558 tấn và chở nặng là 935 tấn, chiều dài 66 m, chiều ngang 9,9. Tốc độ 10.5 gút. 4 chiếc kia trọng tải 281 tấn, chở nặng 607 tấn, chiều dài 55 m và chiều ngang 9 m, có hai máy Diesel và một chân vịt. Tàu Nhựt Lệ được đóng năm 1953 ở Reykjavik, Iceland.
Tàu Nhựt Lệ có nhiệm vụ chở đạn dược tiếp tế cho Nha Trang, Quy Nhơn và Đà Nẵng. Tàu neo ở Nhà Bè và có hai sà lan chở đạn từ Thành Tuy Hạ ra tiếp tế. Một lần sau khi tàu đã đến Đà Nẵng tôi nhận tin chiếc sà lan chở đạn cho tàu tôi ở Nhà Bè đã bị đặc công gài mìn nổ tung. Chiếc sà lan chỉ chở có 200 tấn mà phát nổ làm rung chuyển cả thành phố Saigon, và làm cửa kính khách sạn Caravelle bể hết. Nếu Nhựt Lệ bị gài bom thì với gần 500 tấn bom đạn đủ loại sẽ nổ như trái bom 500 tấn, nếu tôi có mặt trên tàu thì chắc sẽ biến thành bụi tro.
Mỗi tháng tôi đi một chuyến dài 15 ngày và về bến 15 ngày. Thuyền trưởng trước đây vẽ hải lộ xa tuốt ngoài khơi cho an toàn. Tôi lại khác, thích đi sát bờ cho nhanh, do dó cần sĩ quan đi phiên làm point chính xác. Khi vừa ra khỏi Vũng Tàu là tôi kẻ đường đi bên trong Hòn Bà gần sát bãi sau và cứ thế khi đi ngang các Mũi Điện (Varella) và Mũi Đinh (Padaran) đều đi sát bờ. Như thế tôi rút ngăn hải trình được cả tiếng đồng hồ. Ở Nha Trang thì cặp cầu Đá, ở Quy Nhơn thì phải vào trong vịnh chật hẹp, đáy bùn. Tôi phải thả neo mũi cho rà đáy vịnh để giữ cho không va phải các tàu khác đang neo trong vịnh. Ở Đà Nẵng tôi phải cho tàu qua lạch để vào sông Hàn cặp cầu Quan Thuế là một cầu nổi gần cầu Trịnh Minh Thế.
Vì không biết thủ tục “đầu tiên” nên sau khi ông TL/HQ T V P ra Nha Trang 4 lần trong 2 tháng xem tôi có hiểu bổn phận và mở mắt ra không. Thấy tôi cứ ngu si ù lỳ, ông cho gọi tôi về BTL trình diện ông TMT để nhận lệnh biệt phái sang Nha Hoả Xa.
Bị mất chức Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm HLHQ/NT tôi trở thành “ông quan tàu” trên một thương thuyền có mình tôi là nhà binh. Tôi sử dụng thời gian ở bến để ghi danh học Đại Học Văn Khoa. Trong 15 ngày neo tàu ở Nhà Bè để lên đạn, tôi đi học. Các lớp tiếng Anh có các giáo sư Mỹ giảng dậy theo chương trình Fulbright teacher Exchange. Tôi luôn luôn ngồi bàn đầu và giơ tay hỏi hay trả lời các thầy cô. Trước khi khởi hành tôi xin các bài làm ở nhà cho cả tháng để nộp lần sau khi trở về Saigon. Trong ba năm ngoài chứng chỉ Dự Bị Văn Khoa, tôi lấy thêm 5 chứng chỉ khác bằng cách thi một chứng chỉ đầu hè rồi mượn bài học để thi một chứng chỉ khác vào cuối hè.
Môn Văn Chương Quốc Âm của cha Nguyễn Thanh Lãng, tôi vừa thi viết xong, chưa biết kết quả thế nào đã đến tận nhà cha để xin thi vấn đáp vì hôm sau đã phải đi công tác. Cha cũng cho tôi thi, nhờ vậy tôi mới có bằng Cử Nhân Giáo Khoa Anh, và sau này khi sang Mỹ tôi đã được nhận vào chương trình Cao Học, cũng như khi đi dậy học trong Fairfax County Public Schools, họ đã cho tôi dậy môn ESL, và một mùa hè đã được dậy môn English 9 cho học sinh Mỹ. Bà Dr. Esther Eisenhower, Coordinator về ESL Instruction đã mời bốn giáo sư khác đến lớp coi tôi dậy mùa hè 1976, và đã mướn tôi dậy tại trường Trung Học JEB Stuart vào mùa Thu năm 1976.
Ra biển tôi chỉ lo học và không có sinh hoạt gì khác với các thuyền trưởng và các sĩ quan các tàu khác mỗi khi cặp bến cạnh nhau. Tại Nha Trang một lần có 3 chiếc kế bên nhau, mấy sĩ quan trong đó có ông Nguyễn Thiện Nhựt Noel đã sang tàu tôi đánh sì phé vì phòng khách tàu tôi rộng rãi hơn. Kỳ đó ông thua nặng phải ký luôn chiếc đồng hồ Bulova.
Tàu Nhựt Lệ rất tiện nghi, mình tôi chiếm tầng trên, có phòng tắm riêng trong phòng ngủ. Có phòng khách và tôi có ông bếp nấu ăn và giặt rũ cho tôi. Sĩ quan cơ khí của tôi là ông Đốt đã từng sử dụng các máy hơi nước trên xe lửa nhưng trên Nhựt Lê ông phải chăm lo cho các máy Diesel. Ông không xuống hầm máy mà cứ ở trên đài chỉ huy với tôi để nhắc lệnh cho hầm máy.
Thuyền phó của tôi là anh Tuấn “râu”. Anh có bộ râu tất ngoạn mục, anh này nói tàu có ma, vì nó đè anh. Anh kể chuyện về Saigon anh có ngủ với một cô, nó vật lộn dữ dội làm anh hối tiếc vì đã xuất tinh với nó. Anh cũng có phòng riêng, còn thủy thủ thì kéo bồ lên đài chỉ huy hành lạc.
Những ngày ở Nhà Bè, tôi có chiếc xe Lambretta, được chở theo tàu để về nhà cho nhanh.
Ông cai thợ một hôm đem xuống tàu 6 cô, đứng trên nắp hầm chứa, và mời tôi xuống lựa xem cô nào tôi ưng. Tôi lắc đầu nói các anh cứ tự nhiên, còn tôi đang bận học thi. Trên tàu buôn có những sự việc khác hẳn với trên chiến hạm. Tôi đâu có thể áp dụng kỷ luật với họ.

Một hôm tôi được mời lên nhà hàng Đại Thế Giới ở Đà Nẵng, để dự một đêm “Nhất Dạ Đế Vương”. Tôi tới nơi bước vào phòng lớn, thấy có một bàn sì phé mỗi người đánh được tặng một hộp bích quy đựng toàn giấy bạc 500 đồng. Sau bữa tiệc thịnh soạn còn có bốn cô nằm chờ trong bốn căn phòng kế bên. Tôi ớn lạnh bèn từ từ rút lui. Tôi biết rằng nếu ở lại sẽ bị bắt bí là phải nhận chở các xe phế thải, vỏ đạn đồng và quế về Saigon. Tàu tôi trên đường về, sau khi lên hết bom đạn tại cầu Quan Thuế Đà Nẵng thì trống rỗng. Khi biển động tôi phải cho bơm nước vào ballast cho mũi tàu chìm xuống.
Một lần nhân viên sử dụng cần trục lỡ tay khiến một palette bom đè chết một phu khuân vác khi người này bị ép vào thành tàu. Tất cả phu thợ làm reo ngưng lên đạn, họ còn mời thầy cúng chạy đàn và thắp nhang quanh tàu. Phải hứa bồi thường tính mạng cho anh, thì hai ngày sau họ mới tiếp tục làm việc. Một lần khác họ cũng làm cho một palette bom rơi xuống sông Hàn ngay cạnh tàu.
Năm 1968, dịp Tết Mậu Thân, tàu mắc kẹt tại Đà Nẵng 52 ngày vì các xe GMC mắc chở đồ tiếp tế cho Huế đang bị cộng sản tấn công. Con út của chúng tôi đã chờ tôi về mới ra đời trễ hơn một tuần. Đúng ngày tôi về Saigon, thì tối hôm ấy nhà tôi chuyển bụng. Chúng tôi đã đặt cọc để nhà tôi sanh tại Bệnh Viện Hồng Bàng, nhưng lúc đó vẫn còn thiết quân luật. Tôi đành thắp đèn dầu đưa nhà tôi sang nhà bảo sanh cách nhà mẹ vợ mấy căn, cũng may có bà bác sĩ gần đó qua đỡ đẻ cho. Cháu này sanh ra rất “vượng phụ”, đở tốn tiền nếu sanh ở Hồng Bàng, và cuối năm 1968 là thời điểm hải nghiệp của tôi thăng hoa
Bệnh Viện Hạm Helgoland của Đức
Trong thời gian 52 ngày ở Đà Nẵng dịp Tết Mậu Thân, tàu tôi cặp cầu Quan Thuế thì bên cầu chữ T kế bên có chiếc tàu Bệnh Viện của Đức tên Helgoland cặp. Thật là trớ trêu, tàu tôi chở vũ khi giết người trong khi Helgoland lại chữa thương cho hàng ngàn người nghèo bệnh tật tại Đà Nẵng. Mỗi tối tôi đều đưa tàu ra ngoài Vịnh Đà Nẵng neo để tránh pháo kích thì thuyền trưởng Helgoland cũng chạy theo. Buổi sáng tôi cho tàu vào bến thì ông cũng chạy theo vào.
Trong ba năm đi tàu Nhựt Lệ tôi không có nhà trong cư xá, phải tá túc tại nhà mẹ vợ. Sau một năm nằm trên gác bếp, tôi đã xin được dựng một căn gác xép cho gia đình, có gắn máy lạnh, khá dễ chịu.
Bệnh Viện Hạm Helgoland của Đức
Cuối năm 1968 ông Dư Trí Hùng nói người Mỹ muốn tôi trở về Hải Quân: “Cậu đi bên Hỏa Xa ba năm đủ rồi. Tôi về BTL HQ trình diện và được làm Trưởng Phòng Quân Huấn thay thế ông Nguyễn Ngọc Quỳnh được bổ nhiệm làm CHT Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc. Từ đó đời tôi lên hương hết bị đầy ải.
Bùi Hữu Thư

















All reactions:20Duyet H Nguyen, Van Hiep Bui and 18 others

No comments:

Thương Thuyền Nhựt Lệ: 1966-1969

Thương Thuyền Nhựt Lệ Hôm nay tôi đăng lại câu chuyện về chiếc tàu cuối cùng tôi chỉ huy trong 3 năm. Ba năm trời ăn ngủ trên những khoang c...