
Các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã không đổ máu để chiến đấu cho lá cờ đỏ sao vàng, cũng không phải để bảo vệ một chính quyền mà tính chính danh chỉ tồn tại trên giấy tờ ngoại giao. Họ ra trận vì tin rằng người dân Việt Nam Cộng Hòa có quyền được sống trong tự do, có cơm ăn áo mặc, và có khả năng tự lựa chọn con đường phát triển của mình, thay vì bị áp đặt một mô hình khép kín, toàn trị.
Khi nhiều cựu binh Mỹ quay trở lại Việt Nam sau chiến tranh, điều khiến họ trăn trở không phải là sự hối tiếc, mà là một câu hỏi lịch sử: nếu Hoa Kỳ không can thiệp, liệu Việt Nam có tránh được một tương lai nghèo đói, cô lập và lệ thuộc như Bắc Hàn, Cuba hay Venezuela hay không? Kinh nghiệm của thế kỷ XX cho thấy điều ngược lại. Những quốc gia cứng nhắc bám theo mô hình cộng sản cực đoan đều phải trả giá bằng sự trì trệ kéo dài, mức sống bị bóp nghẹt và việc hy sinh tự do cá nhân nhân danh những khẩu hiệu.

Cũng không thể phủ nhận rằng sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ, cùng với hàng triệu người Việt Nam yêu tự do đã rời bỏ quê hương sang Hoa Kỳ và các nước phương Tây sau năm 1975, đã đóng vai trò then chốt trong việc ngăn Việt Nam rơi vào tình trạng cô lập hoàn toàn với thế giới. Kiều hối, chuyển giao tri thức, kinh nghiệm quản lý và áp lực bên ngoài buộc phải hội nhập đã khiến chính quyền trong nước phải thay đổi để tồn tại. Việt Nam không trở nên khá giả nhờ chiến thắng năm 1975; đất nước chỉ bắt đầu cải thiện khi bị buộc phải rời xa chính mô hình chính trị và kinh tế đã đẩy nhiều quốc gia khác vào nghèo đói và chuyên chế.
Phủ nhận vai trò của những người lính Mỹ và cộng đồng người Việt tị nạn không phải là “bảo vệ lịch sử”, mà là cố tình xóa bỏ những sự thật bất tiện. Lịch sử không được quyết định bởi khẩu hiệu, biểu tượng hay kết cục trên chiến trường, mà bởi những hệ quả cụ thể mà mỗi lựa chọn chính trị để lại trên đời sống của hàng chục triệu con người.TCH@AI
No comments:
Post a Comment