Friday, June 5, 2026

30 phút Đọ Súng Trong Trận Hải Chiến Hoàng Sa 1974


Đúng 10h25 ngày 19/1/1974, đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh tấn công các chiến hạm Hải quân Trung Quốc nhằm tái chiếm Hoàng Sa. Hải pháo hai bên nã đạn trực tiếp không ngừng.
Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa 40
Chuẩn bị cho trận chiến, Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1 duyên hải Việt Nam Cộng hòa đã thành lập Hải đoàn đặc nhiệm bảo vệ Hoàng Sa, gồm các chiến hạm và sĩ quan được bổ sung từ Bộ Tư lệnh Hải quân tại Sài Gòn. Chỉ huy trưởng Hải đoàn đặc nhiệm là đại tá Hà Văn Ngạc.
Các thập niên 1950, 1960 và 1970, Hải quân Mỹ thường tân trang chiến hạm cũ từ Chiến tranh thế giới thứ II rồi viện trợ cho đồng minh ở châu Á như Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa, Philippines… Vũ khí, hệ thống điện tử, hệ thống điều khiển của tàu viện trợ đều lỗi thời. Trong khi đó, Liên Xô, Trung Quốc và một số quốc gia Đông Âu đã trang bị cho hải quân theo quan điểm đổi tiện nghi, trang bị điện tử để lấy ưu thế về tốc độ, vũ khí và dùng những chiến thuyền nhỏ tấn công các chiến hạm lớn.


Trận chiến Hoàng Sa diễn ra chủ yếu trong lòng của vùng đảo Nguyệt Thiềm, chiến hạm Trung Quốc nhỏ, nằm sát mặt nước nên rất khó bắn trúng, đồng thời dễ dàng nâng cao độ của hải pháo, tạo thế tấn công hữu hiệu.
Hải pháo của chiến hạm Việt Nam Cộng hòa nằm trên cao so với hải pháo Trung Quốc nên khó xoay trở ở cự ly gần. Hơn nữa, khi Mỹ chuyển giao các chiến hạm cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa, các trang bị tối tân như pháo 76,2 ly bắn nhanh tự động với hệ thống radar kiểm soát (radar control) và khóa mục tiêu (lock-on system) đã bị tháo gỡ hoặc không còn sử dụng được.
Khẩu 127 ly trên các tuần duyên hạm của Việt Nam Cộng hòa đều phải điều chỉnh bằng tay nên nhịp bắn rất chậm, chỉ hữu hiệu trong việc yểm trợ hải pháo.
Trung Quốc có đủ tất cả lực lượng hải, lục, không quân và tiềm thủy đỉnh (tàu ngầm) túc trực, sẵn sàng tham chiến. Việt Nam Cộng hòa chỉ có chiến đấu cơ tốt nhất là loại F5E, tầm hoạt động ngắn, đủ nhiên liệu bay ra Hoàng Sa rồi quay về mà không thể ở lại yểm trợ hoặc chiến đấu. (Tương quan lực lượng hai bên).
Máy bay F5E của Việt Nam Cộng hòa chỉ đủ nhiên liệu bay ra Hoàng Sa rồi quay về. Ảnh tư liệu


Trước giờ khai hỏa
Diễn biến được coi là khởi đầu trận hải chiến vào ngày 11/1/1974, khi Trung Quốc tuyên bố quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và quần đảo Nam Sa (Hoàng Sa) thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ngay lập tức, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hòa Vương Văn Bắc lên tiếng bác bỏ lời tuyên bố vô căn cứ và lên án hành động gây hấn của Trung Quốc. Từ thời điểm này, liên tục có những diễn biến căng thẳng cả trên thực địa lẫn mặt trận ngoại giao đến khi cuộc nổ súng bắt đầu.
Bốn chiến hạm Việt Nam Cộng hòa tham gia trận chiến.


Ngày 15/1/1974, Hải quân Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam khi đổ bộ chiếm đóng các đảo Quang Hòa, Duy Mộng và Cam Tuyền.
10h, HQ16 đi tuần tiễu phát hiện trên đảo Cam Tuyền cắm cờ Trung Quốc và gần đó là một tàu đánh cá Trung Quốc màu xanh xám, mang tên Nam Ngư, số 402, có đại bác 25 ly. Tàu HQ16 đã dùng quang hiệu yêu cầu tàu Trung Quốc rời đảo nhưng tàu này không trả lời. Chiều cùng ngày, tàu Trung Quốc mới rời khỏi đảo.
Ngày 16/1/1974, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc gửi công hàm cho Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để lưu ý tình hình căng thẳng nghiêm trọng, có khả năng đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, xảy ra bởi lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.
Sáng sớm hôm đó, HQ16 đi tuần và phát hiện trên đảo Quang Hòa có chòi canh, vọng gác cao gắn cờ Trung Quốc cùng một chiến hạm Trung Quốc di chuyển quanh đảo. HQ16 yêu cầu tàu này rút lui nhưng không có tín hiệu trả lời. Đảo Duy Mộng không có người nhưng có hai tàu nhỏ của Trung Quốc ở gần bờ.
Trưa 16/1, HQ16 đưa 16 nhân viên cơ hữu lên đảo Vĩnh Lạc để thám sát, phát hiện có mộ và bia đã đề chữ Hán. Lúc 15h35, HQ16 ghi nhận tại Tây Nam đảo Cam Tuyền có hai tàu đánh cá Trung Quốc được vũ trang đại bác 25 ly, mang số 402 và 407.
Ngày 17/1, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa gửi công hàm cho Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đề nghị ban bố mọi biện pháp thích hợp để cải thiện tình hình.
Trên thực địa, lúc 11h, HQ16 hoàn tất đổ bộ đoàn 15 nhân viên cơ hữu lên tăng cường giữ đảo Vĩnh Lạc. Nhóm này có nhiệm vụ phá hủy các tấm mộ bia và tổ chức phòng thủ trên đảo.
15h cùng ngày, HQ16 đến đảo Cam Tuyền, án ngữ tại phía Đông Nam để yểm trợ cho HQ4 đổ bộ 27 biệt hải lên phía Tây đảo Cam Tuyền trong khi hai tàu Trung Quốc 402 và 407 đang ở phía Nam đảo Cam Tuyền.
18h, HQ4 phát hiện hai tàu Trung Quốc Kronshtadt 271 và 274 từ đảo Quang Hòa tiến về đảo Cam Tuyền. HQ4 đã dùng quang hiện yêu cầu các tàu này rời đi, tàu Trung Quốc cũng dùng quang hiệu trả lời rằng các đảo này thuộc chủ quyền của họ và yêu cầu chiến hạm Việt Nam Cộng hòa rút lui. Tiếp đó, các tàu này chạy quanh HQ4 và di chuyển chặn đầu chiến hạm, bất chấp quy tắc hàng hải quốc tế.
Ngày 18/1, một trong bốn tàu Trung Quốc rời đảo Quang Hòa tiến về HQ4 lúc 4h30. Nhưng sau khi HQ4 tiến sát tàu địch thì tàu này rút lui về phía đảo Quang Hòa. 8h45, HQ16 phát hiện thêm một tàu Trung Quốc di chuyển phía Đông Nam đảo Duy Mộng. Trên đảo đã thấy cờ Trung Quốc.
10h30, HQ4 hoàn tất đổ bộ đoàn 15 nhân viên cơ hữu lên tăng cường giữ đảo Cam Tuyền và rút tất cả 27 biệt hải trở về chiến hạm. Tàu Trung Quốc mang số hiệu 407 tiến về phía HQ16.
15h cùng ngày, Đại tá Hà Văn Ngạc và HQ5 đến Hoàng Sa. Hải đoàn gồm HQ4, HQ5, HQ16 tiến về Quang Hòa với hy vọng có thể đổ bộ toán hải kích lên đảo. Hai tàu Trung Quốc 271 và 274 tiến tới chặn đường. Hai bên liên lạc quang hiệu, xác nhận Hoàng Sa là lãnh hải của mình và yêu cầu phía bên kia phải rời ngay lập tức. Với hành động cố tình chặn đường có thể gây đụng tàu, Hải đoàn trở về phía Nam đảo Hoàng Sa, tiếp tục theo dõi chiến hạm Trung Quốc.
19h15, HQ5 phát hiện thêm hai chiến hạm Trung Quốc loại T43 cải biến mang số 389 và 396.
23h, Đại tá Hà Văn Ngạc nhận lệnh tái chiếm đảo Quang Hòa một cách hòa bình. Vị Chỉ huy trưởng chia Hải đoàn ra làm hai phân đoàn đặc nhiệm: Phân đoàn một gồm HQ4 và HQ5 do trung tá Vũ Hữu San, chỉ huy với nhiệm vụ có mặt tại phía Nam và Tây Nam đảo Quang Hòa để đổ bộ hai toán hải kích và biệt hải. Phân đoàn hai gồm HQ10 và HQ16 do trung tá Lê Văn Thự chỉ huy với nhiệm vụ giữ nguyên vị trí trong lòng vùng đảo Nguyệt Thiềm để yểm trợ cho việc đổ quân. Nếu cuộc đổ bộ không thành thì các chiếm hạm sẽ dùng hỏa lực tiêu diệt hai chiến hạm chủ lực của địch (271 và 274), còn quân Trung Quốc sẽ là mục tiêu tấn công cuối cùng.
19/1/1974 - Cuộc đấu pháo 30 phút
7h sáng, HQ5 đổ bộ 22 hải kích lên bờ Tây Nam và HQ4 đổ bộ 27 biệt hải lên bờ Nam để tái chiếm đảo Quang Hòa nhưng thất bại trước hỏa lực quá mạnh của Trung Quốc. Cũng trong thời gian này, tàu Trung Quốc 402 và 407 tăng cường khoảng 2 đại đội lên bờ đông bắc đảo Quang Hòa.

8h50 và 10h, Tư lệnh Vùng 1 Duyên hải chỉ thị cho đại tá Hà Văn Ngạc tấn công tối đa vào các đảo. Nếu địch bắn phá, dùng mọi khả năng để chống trả. Nhận thấy chỉ thị này sẽ bất lợi cho hải đoàn vì chiến hạm địch có toàn lực trong lúc hải đoàn Việt Nam đang bị phân tán nên đại tá Hà Văn Ngạc đề nghị Tư lệnh Vùng 1 Duyên hải cho triệt hạ tàu địch trước. Tư lệnh đồng ý.
10h, Chỉ huy trưởng Hà Văn Ngạc ra lệnh rút hải kích và biệt hải. Các phân đoàn chuẩn bị tấn công tại các vị trí ấn định. Phân đoàn một gồm HQ4 và HQ5 đối đầu với hai hộ tống hạm 271 và 274 tại phía Tây Nam đảo Quang Hòa. Phân đoàn hai gồm HQ16 và HQ10 đối đầu với hai hộ tống hạm T43 là 389 và 396 tại phía Tây Bắc đảo Quang Hòa.
Sơ đồ trận chiến theo mô tả trong sách Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San và Trần Đỗ Cẩm

Cuộc tấn công của Phân đoàn 2 gồm HQ16, HQ10 diễn ra ở phía Bắc đảo Quang Hòa. Đúng 10h25, đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh tấn công các chiến hạm Hải quân Trung Quốc tại Hoàng Sa. HQ16 và HQ10 đứng yên, mọi ổ súng lớn, nhỏ từ mũi tàu ra sau lái đều nhắm bắn vào tàu Trung Quốc. Hải pháo giữa chiến hạm hai bên nã đạn trực tiếp không ngừng.
10h35, HQ10 báo cáo Đài chỉ huy trúng đạn, Hạm trưởng bị trọng thương, hầm máy bị cháy và ngập nước. Hạm trưởng HQ16 ra lệnh cho Hạm phó HQ10 là đại úy Nguyễn Thành Trí lên thay quyền chỉ huy. HQ10 vẫn tấn công ào ạt vào chiếc 396 của Trung Quốc đang tiến gần.
10h45, chiếc 389 bị trúng đạn bốc khói mù mịt.
10h55, chiếc 396 bị bắn không điều khiển được, đụng vào HQ10 rồi lại bật ra xa, bị trúng thêm đạn bốc cháy xoay vài lần rồi dạt vào bãi san hô Tây Bắc đảo Duy Mộng. HQ10 cũng bị thiệt hại nặng nề, bị trúng đạn và không thể điều khiển được.
Trong khi đó, HQ16 bị trúng đạn lạc của HQ5, hầm máy bên phải ngập nước, vài phút sau, tàu bị nghiêng. Phòng vô tuyến liên lạc truyền tin bị gián đoạn vì mất điện. Nhận thấy không thể tiếp tục tham chiến, HQ16 rời khỏi lòng chảo, chạy về hướng Đà Nẵng.

11h10, HQ10 bị bỏ lại. Hạm trưởng và một số nhân viên tử thương. Hạm phó ra lệnh đào thoát.
Cuộc tấn công của Phân đoàn 1 gồm HQ5, HQ4 diễn ra ở phía Tây Nam đảo Quang Hòa. 10h25, hải pháo 76,2 ly của HQ4 ở sân mũi gặp sự cố ngay từ phút đầu tiên và phải chờ sửa chữa. Việc này đã làm đảo lộn các dự tính của đại tá Hà Văn Ngạc. Tuy vậy, HQ4 vẫn tận dụng hỏa lực còn lại, tiếp tục bám sát mục tiêu của mình trong tầm đại liên.
10h40, khẩu 76,2 ly của HQ4 ở sân lái sau bị hỏng bộ phận tấn công tự động nên phải điều chỉnh bằng tay, bắn từng phát một nặng nề và chậm chạp. Đại tá Ngạc đã ra lệnh cho HQ4 rút lui khỏi vòng chiến để sửa chữa và chỉ thị HQ5 yểm trợ cho HQ4 rút ra xa. HQ4 tuy bị trúng nhiều đạn nhưng máy móc chính và hệ thống truyền tin vẫn điều khiển tốt.
10h55, chiếc 274 bị trúng đạn, bốc cháy và dạt vào bờ san hô phía Nam đảo Quang Hòa. Đa số súng trên HQ5 bị trở ngại, trừ khẩu pháo 40 ly bên trái, máy siêu tần không còn liên lạc được, máy truyền tin trên đài chỉ huy cũng bị trúng đạn bể nát, đại tá Ngạc phải vào Trung tâm chiến báo dùng máy VRC46 để chỉ huy.
Sau trận hải chiến, HQ10 không điều khiển được, bị bỏ lại và sau đó bị Trung Quốc đánh chìm; 3 chiến hạm (HQ4, HQ5, HQ16) bị hư hại; 74 binh sĩ hy sinh, 28 người bị thương và 48 người bị bắt làm tù binh khi Trung Quốc tăng quân đổ bộ lên chiếm các đảo vào ngày 20/1/1974.
Về phía Trung Quốc, 2 chiến hạm (274 và 396) bị chìm hoặc dạt vào bãi san hô; 2 chiến hạm (271 và 389) bị thiệt hại nặng; không rõ số nhân viên bị thương và chết.
11h, chiếc 271 được chiếc 389 tiếp trợ, hợp lực quay lại tấn công HQ5. HQ5 bị trúng nhiều đạn nhưng phản công dữ dội khiến tàu địch thiệt hại nặng phải chùn lại.
Nhận được tin báo tăng viện của địch sắp đến, với tình trạng HQ10 không thể sử dụng, HQ16 nước vào hầm máy, tàu bị nghiêng, HQ4 và HQ5 trúng nhiều đạn chỉ còn hỏa lực rất hạn chế, Chỉ huy trưởng Hải đội đặc nhiệm ra lệnh cho HQ5 rút lui về hướng Đông Nam.
Hai tàu địch cũng bị hư hỏng nặng nên rút về hướng Đông Bắc Hoàng Sa. HQ5 cùng HQ4 rút về hướng Đông Nam và tiến về Đà Nẵng.
11h10, ba chiến hạm của Hải quân Việt Nam Cộng hòa buộc phải rút khi lực lượng tăng viện Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc nhập vùng (tàu hộ tống 281, 282 đến nơi sớm nhất, khoảng 30 phút sau khi Hải quân Việt Nam Cộng hòa rút). 15 nhân viên cơ hữu thuộc HQ16 bị kẹt lại đảo Vĩnh Lạc, 15 nhân viên cơ hữu thuộc HQ4 bị kẹt lại Cam Tuyền, các đảo của Việt Nam chỉ còn lực lượng quân đội trú phòng vệ, không còn hải pháo yểm trợ.
Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa kể từ thời điểm này rơi vào tay Trung Quốc.


Diễn biến sau trận chiến Hoàng Sa

11h50 ngày 19/1/1974, hai chiến hạm tăng viện của Trung Quốc 281, 282 nhập vùng tiếp cứu các chiến hạm thiệt hại và nhân viên Trung Quốc bị thương, thiệt mạng. Hạm đội Trung Quốc tiếp tục sử dụng hải, lục, không quân tấn công và chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, bắt 50 tù binh (có 1 người Mỹ). Các tù binh này sau đó được trao trả vào ngày 17/2.
14h15 ngày 19/1/1974, HQ4 và HQ5 được lệnh quay lại Hoàng Sa tiếp cứu nhân viên đào thoát từ HQ10 đồng thời nhận được tin HQ16 sẽ được HQ6 hộ tống về Đà Nẵng.
17h20 ngày 19/1/1974, HQ4 và HQ5 gần đến Hoàng Sa thì nhận được lệnh trở về Đà Nẵng.
7h ngày 20/1/1974, HQ16 về đến vịnh Tiên Sa, cập cầu căn cứ hải quân Đà Nẵng.
7h30 ngày 20/1/1974, HQ4 và HQ5 cập cầu thương cảng Thống Nhất, Đà Nẵng.
Trong khi đó, ở trên bờ, 12h ngày 19/1/1974 Sư đoàn 1 không quân Việt Nam Cộng hòa nhận được lệnh chuẩn bị cuộc hành quân đánh bom các chiến hạm Trung Quốc tại Hoàng Sa. Sáng 20/1, Kế hoạch không tập các chiến hạm Trung Quốc tại Hoàng Sa hoàn tất và lực lượng tham chiến thuộc Phi đoàn 538 sẵn sang chờ lệnh.
Trưa hôm sau, kế hoạch dội bom các chiến hạm Trung Quốc tại Hoàng Sa bị hủy bỏ.

Nguyễn Hùng Cường

(Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo)

Tham khảo báo trong nước: Vietnam Exptress

https://vnexpress.net/thoi-su/30-phut-dau-phao-trong-tran-hai-chien-hoang-sa-1974-2940469.html



Paracel Islands (Hoàng Sa)

Saturday, February 1, 2020 30 Minutes of Artillery Duel in the 1974 Paracel Islands Naval Battle



At exactly 10:25 AM on January 19, 1974, Captain Ha Van Ngac ordered an attack on Chinese Navy warships to reclaim the Paracel Islands. Naval artillery from both sides fired directly and incessantly at each other.

Why China invaded and seized the Paracels (40 years later) In preparation for the battle, the Coastal Region 1 Naval Command of the Republic of Vietnam (RVN) established a Special Task Force Fleet to protect the Paracels, consisting of warships and officers supplemented from the Naval Command in Saigon. The Commander of this Special Task Force Fleet was Captain Ha Van Ngac.

During the 1950s, 1960s, and 1970s, the U.S. Navy often refurbished old World War II warships and provided them as military aid to Asian allies such as Taiwan, the Republic of Vietnam, and the Philippines... The weapons, electronic systems, and control systems of these aided ships were obsolete. Meanwhile, the Soviet Union, China, and several Eastern European nations equipped their navies based on the philosophy of trading comfort and electronic equipment for advantages in speed and weaponry, using smaller vessels to attack large warships.

(See details).

The Battle of the Paracels took place mainly within the Crescent Group (Nhóm đảo Nguyệt Thiềm). Chinese warships were small and sat low in the water, making them very difficult to hit, while simultaneously allowing them to easily raise the elevation of their naval artillery to create an effective offensive posture.

The naval artillery of the Republic of Vietnam's warships sat high compared to the Chinese artillery, making them difficult to maneuver at close range. Furthermore, when the U.S. transferred the warships to the Republic of Vietnam Navy, advanced equipment such as the fast-firing automatic 76.2 mm cannons with radar control and lock-on systems had been removed or were no longer functional.

The 127 mm cannons on the RVN coast guard cutters all had to be adjusted manually, resulting in a very slow rate of fire, making them effective only for naval gunfire support.

China had full deployment of naval, land, air, and submarine forces on standby, ready to engage. The Republic of Vietnam only had its best fighters, the F-5E, which had a short operational range—possessing just enough fuel to fly out to the Paracels and return, without being able to remain on station for support or combat. (Force correlation between the two sides). The F-5E aircraft of the Republic of Vietnam only had enough fuel to fly out to the Paracels and return. (Archival photo)
Before the Hour of Gunfire

The events considered the prelude to the naval battle began on January 11, 1974, when China declared that the Xisha (Paracel) and Nansha (Spratly) archipelagos belonged to Chinese territory. Immediately, RVN Foreign Minister Vuong Van Bac spoke up to reject the baseless declaration and condemn China's provocative actions. From this moment on, tense developments continued to unfold both on the ground and on the diplomatic front until the shooting started.

Four Republic of Vietnam warships participated in the battle.

On January 15, 1974, the Chinese Navy violated Vietnamese territory and territorial waters by landing troops to occupy Duncan (Quang Hòa), Drummond (Duy Mộng), and Palm (Cam Tuyền) islands.

At 10:00 AM, the HQ-16 patrolling ship discovered the Chinese flag planted on Palm Island and, nearby, a gray-green Chinese fishing vessel named Nam Ngư, number 402, equipped with a 25 mm cannon. The HQ-16 used light signals to request the Chinese vessel to leave the island, but the vessel did not reply. It was not until that afternoon that the Chinese ship departed from the island.

On January 16, 1974, Foreign Minister Vuong Van Bac sent an official note to the President of the United Nations Security Council to draw attention to the serious, tense situation that threatened international peace and security, caused by China's sovereignty claim.

Early that morning, HQ-16 patrolled and discovered a watchtower and a high observation post flying the Chinese flag on Duncan Island, along with a Chinese warship moving around the island. HQ-16 requested the ship to retreat, but received no signal in response. Drummond Island was uninhabited, but two small Chinese vessels were near the shore.

At noon on January 16, HQ-16 deployed 16 organic personnel onto Money (Vĩnh Lạc) Island for reconnaissance, discovering graves and steles inscribed with Chinese characters. At 3:35 PM, HQ-16 recorded two Chinese fishing vessels armed with 25 mm cannons, numbered 402 and 407, southwest of Palm Island.

On January 17, the Government of the Republic of Vietnam sent an official note to the UN Security Council requesting the implementation of all appropriate measures to improve the situation.

On the ground, at 11:00 AM, HQ-16 completed landing a team of 15 organic personnel to reinforce the defense of Money Island. This group was tasked with destroying the gravestones and organizing defenses on the island.

At 3:00 PM the same day, HQ-16 arrived at Palm Island, positioning itself to the southeast to support HQ-4 in landing 27 Navy SEALs (Biệt hải) on the western side of Palm Island, while the two Chinese ships 402 and 407 were to the south of the island.

At 6:00 PM, HQ-4 detected two Chinese Kronshtadt-class submarine chasers, 271 and 274, advancing from Duncan Island toward Palm Island. HQ-4 used light signals to request these ships to leave; the Chinese ships also replied with light signals claiming these islands belonged to their sovereignty and demanding the RVN warship to retreat. Subsequently, these ships maneuvered around HQ-4 and cut in front of the warship's bow, defying international maritime regulations.

On January 18, one of the four Chinese ships left Duncan Island and advanced toward HQ-4 at 4:30 AM. However, after HQ-4 closed in on the enemy ship, it retreated back toward Duncan Island. At 8:45 AM, HQ-16 spotted another Chinese vessel moving southeast of Drummond Island. The Chinese flag was already visible on the island.

At 10:30 AM, HQ-4 completed landing a team of 15 organic personnel to reinforce Palm Island and withdrew all 27 Navy SEALs back to the warship. The Chinese ship bearing hull number 407 advanced toward HQ-16.

At 3:00 PM that same day, Colonel Ha Van Ngac and HQ-5 arrived in the Paracels. The fleet, comprising HQ-4, HQ-5, and HQ-16, advanced toward Duncan Island hoping to land a naval commando (Hải kích) team on the island. Two Chinese ships, 271 and 274, moved to block their path. Both sides communicated via light signals, confirming the Paracels as their own territorial waters and demanding the other side leave immediately. Facing deliberate blocking maneuvers that could cause a collision, the Fleet returned to the southern side of Pattle (Hoàng Sa) Island, continuing to monitor the Chinese warships.

At 7:15 PM, HQ-5 detected two additional Chinese Type T43-modified minesweepers, numbered 389 and 396.

At 11:00 PM, Colonel Ha Van Ngac received orders to peacefully reclaim Duncan Island. The Commander divided the Fleet into two special task groups: Task Group 1, consisting of HQ-4 and HQ-5, commanded by Commander Vu Huu San, tasked with positioning themselves south and southwest of Duncan Island to land two teams of naval commandos and Navy SEALs. Task Group 2, consisting of HQ-10 and HQ-16, commanded by Commander Le Van Thu, tasked with maintaining their positions inside the Crescent Group lagoon to support the troop landings. If the landing failed, the warships would use firepower to destroy the enemy's two main warships (271 and 274), with the Chinese troops on land being the final target.
January 19, 1974 - The 30-Minute Artillery Duel

At 7:00 AM, HQ-5 landed 22 naval commandos on the southwestern shore and HQ-4 landed 27 Navy SEALs on the southern shore to reclaim Duncan Island, but they failed in the face of overwhelming Chinese firepower. Also during this time, Chinese ships 402 and 407 reinforced the northeastern shore of Duncan Island with approximately two companies of troops.

At 8:50 AM and 10:00 AM, the Coastal Region 1 Naval Commander instructed Colonel Ha Van Ngac to launch maximum attacks on the islands. If the enemy opened fire, use all capabilities to fight back. Realizing this directive would disadvantage the fleet since the enemy ships were at full strength while the Vietnamese fleet was scattered, Colonel Ha Van Ngac proposed to the Coastal Region 1 Naval Commander to eliminate the enemy ships first. The Commander agreed.

At 10:00 AM, Fleet Commander Ha Van Ngac ordered the withdrawal of the naval commandos and Navy SEALs. The groups prepared to attack at designated positions. Task Group 1 (HQ-4 and HQ-5) faced off against the two submarine chasers 271 and 274 southwest of Duncan Island. Task Group 2 (HQ-16 and HQ-10) faced off against the two T43 minesweepers 389 and 396 northwest of Duncan Island.

Battle diagram as described in the book "Documents on the Paracel Naval Battle" by Vu Huu San and Tran Do Cam.

The attack by Task Group 2, consisting of HQ-16 and HQ-10, took place north of Duncan Island. At exactly 10:25 AM, Colonel Ha Van Ngac ordered the attack on the Chinese Navy warships at the Paracels. HQ-16 and HQ-10 stood stationary, with every gun battery, large and small, from bow to stern aiming and firing at the Chinese ships. Naval artillery between the warships of both sides exchanged direct, continuous fire.

At 10:35 AM, HQ-10 reported that its bridge was hit, the Commanding Officer was severely wounded, and the engine room was on fire and flooding. The Commanding Officer of HQ-16 ordered the Executive Officer of HQ-10, Lieutenant Nguyen Thanh Tri, to take over command. HQ-10 continued to fiercely attack the approaching Chinese vessel 396.

At 10:45 AM, vessel 389 was struck by gunfire, emitting thick columns of smoke.

At 10:55 AM, vessel 396 was hit and became unsteerable, colliding with HQ-10 before bouncing away; hit by additional rounds, it burst into flames, spun several times, and drifted onto the coral reef northwest of Drummond Island. HQ-10 was also heavily damaged, riddled with shells, and left disabled.

Meanwhile, HQ-16 was hit by stray fire from HQ-5, causing its right engine room to flood, and minutes later, the ship began to list. The radio communications room was cut off due to a power outage. Realizing the ship could no longer participate in the battle, HQ-16 left the lagoon and headed toward Da Nang.

At 11:10 AM, HQ-10 was abandoned. The Commanding Officer and several crew members were killed. The Executive Officer ordered the crew to abandon ship.

The attack by Task Group 1, consisting of HQ-5 and HQ-4, took place southwest of Duncan Island. At 10:25 AM, HQ-4's 76.2 mm bow naval gun malfunctioned in the very first minute and had to wait for repairs. This disrupted Colonel Ha Van Ngac's plans. Nonetheless, HQ-4 utilized its remaining firepower, continuing to stick close to its target within heavy machine gun range.

At 10:40 AM, HQ-4's 76.2 mm stern gun suffered a failure in its automatic loading mechanism, requiring manual adjustment and firing heavily and slowly, round by round. Colonel Ngac ordered HQ-4 to disengage from the battle for repairs and instructed HQ-5 to cover HQ-4 as it pulled away. Although HQ-4 was hit by many rounds, its main engines and communications systems remained operational.

At 10:55 AM, Chinese vessel 274 was hit, caught fire, and drifted onto the coral reef south of Duncan Island. Most guns on HQ-5 encountered malfunctions, except for the 40 mm portside cannon; the ultra-high frequency radio could no longer communicate, and the communications equipment on the bridge was smashed by incoming fire. Colonel Ngac had to move to the Combat Information Center (CIC) to use a VRC-46 radio to command.

Following the naval battle, HQ-10 was disabled, abandoned, and later sunk by China; three warships (HQ-4, HQ-5, HQ-16) were damaged; 74 soldiers were killed, 28 were wounded, and 48 were taken prisoner when China reinforced its troops and landed to seize the islands on January 20, 1974.

On the Chinese side, two warships (274 and 396) were sunk or grounded on coral reefs; two warships (271 and 389) were heavily damaged; the number of personnel killed and wounded remains unknown.

At 11:00 AM, vessel 271 was assisted by vessel 389, joining forces to counterattack HQ-5. HQ-5 was hit by many rounds but retaliated fiercely, causing heavy damage to the enemy ships and forcing them to hesitate.

Receiving intelligence that enemy reinforcements were approaching, and given that HQ-10 was out of commission, HQ-16 was taking on water and listing, and HQ-4 and HQ-5 were heavily damaged with highly limited remaining firepower, the Special Task Fleet Commander ordered HQ-5 to retreat toward the southeast.

The two enemy ships were also heavily damaged and retreated toward the northeast of the Paracels. HQ-5 along with HQ-4 withdrew to the southeast and headed toward Da Nang.

At 11:10 AM, the three warships of the Republic of Vietnam Navy were forced to withdraw as reinforcement forces from China's South Sea Fleet entered the area (submarine chasers 281 and 282 arrived earliest, roughly 30 minutes after the RVN Navy withdrew). Fifteen organic personnel from HQ-16 were left stranded on Money Island, 15 organic personnel from HQ-4 were left stranded on Palm Island, and the Vietnamese islands were left with only their garrison forces, devoid of naval artillery support.

From this point forward, the entire Paracel Archipelago fell into Chinese hands.
Developments After the Paracel Naval Battle

At 11:50 AM on January 19, 1974, two Chinese reinforcement warships, 281 and 282, entered the area to rescue the damaged ships and wounded or deceased Chinese personnel. The Chinese fleet continued using naval, ground, and air forces to attack and occupy the entire Paracel Archipelago, capturing 50 prisoners of war (including one American liaison officer). These prisoners were later repatriated on February 17.

At 2:15 PM on January 19, 1974, HQ-4 and HQ-5 were ordered to return to the Paracels to rescue personnel escaping from HQ-10, while receiving news that HQ-16 would be escorted back to Da Nang by HQ-6.

At 5:20 PM on January 19, 1974, as HQ-4 and HQ-5 neared the Paracels, they received orders to turn back to Da Nang.

At 7:00 AM on January 20, 1974, HQ-16 arrived at Tien Sa Xuan Bay, docking at the Da Nang Naval Base.

At 7:30 AM on January 20, 1974, HQ-4 and HQ-5 docked at the Thong Nhat commercial port in Da Nang.

Meanwhile, on land, at 12:00 PM on January 19, 1974, the RVN Air Force 1st Air Division received orders to prepare for a bombing campaign against the Chinese warships in the Paracels. By the morning of January 20, the plan for airstrikes against the Chinese warships in the Paracels was finalized, and the combat forces belonging to the 538th Fighter Squadron stood ready awaiting orders.

By noon the following day, the plan to bomb the Chinese warships in the Paracels was canceled.

Nguyen Hung Cuong (Institute of Marine Science and Islands) Domestic reference source: VnExpress https://vnexpress.net/thoi-su/30-phut-dau-phao-trong-tran-hai-chien-hoang-sa-1974-2940469.html

No comments:

30 phút Đọ Súng Trong Trận Hải Chiến Hoàng Sa 1974

Đúng 10h25 ngày 19/1/1974, đại tá Hà Văn Ngạc ra lệnh tấn công các chiến hạm Hải quân Trung Quốc nhằm tái chiếm Hoàng Sa. Hải pháo hai bên n...