Total Pageviews

Once sailor, forever sailor

Saturday, August 24, 2013

Hoa Kỳ và Ba Cuộc Chiến Lớn: Việt Nam, Afghanistan, Iraq - Phần 1_ Trọng Đạt



Từ giữa thập niên 60 tới nay, Hoa Kỳ đã đưa quân ra ngoại quốc tham chiến tại Việt Nam, Afghanistan và Iraq. Ba cuộc chiến tranh này giống nhau ở chỗ kéo dài trên dưới mười năm, tốn kém và không phải là chiến tranh qui ước hoặc chỉ dàn trận đánh công khai một thời gian ngắn, phần còn lại là chiến tranh du kích.
Theo thứ tự thời gian, trước hết tôi xin đề cập tới:


Chiến tranh Việt Nam
Lực lượng hai bên vào lúc cao điểm của cuộc chiến:
Hoa Kỳ 536,100 người
VNCH: Hơn một triệu quân kể cả chính qui và địa phương quân, lính nhà nghề vào khoảng 200,000 người
Bắc Việt: Ước lượng khoảng gần 300 ngàn người.
Mặt Trận Giải Phóng: Trước Mậu thân 1968 có khoảng 80 ngàn, thập niên 70 chỉ còn khoảng 20 ngàn người.

Hoa Kỳ đã gián tiếp can thiệp vào cuộc chiến chống lại sự bành trướng của Cộng Sản tại Đông Dương từ đầu thập niên 50. Sau khi Trung Cộng đã nuốt trọn nước Tầu năm 1949, họ viện trợ quân sự ồ ạt cho Việt Minh tại biên giới Việt Hoa. Chính phủ Mỹ vội viện trợ cho Pháp đánh Việt Minh, cho tới 1954 chi phí chiến tranh tại Đông Dương phần lớn do Mỹ gánh chịu (78%.The Pentagon Papers Volum 1, Chapter)

Năm 1955 quân Pháp rút về nước, Người Mỹ trợ giúp chính phủ miền Nam Việt Nam thành lập tiền đốn chống Cộng tại Đông Nam Á. Những năm cuối thập niên 50 Cộng Sản Hà Nội bắt đầu phát động chiến tranh du kích xâm lược tại đồng bằng miền Nam. Đầu thập niên 60 chiến tranh ngày càng mở rộng, từ năm 1964, lợi dụng tình hình chính trị miền Nam bất ổn, Cộng Sản ngày càng gia tăng xâm nhập và mở những trận đánh lớn, qui mô hơn khiến cho Việt Nam đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ. Ngày 2-8-1964 vụ tầu Maddox bị ba tầu phóng ngư lôi Bắc Việt tấn công, Quốc hội Mỹ ra luật Gulf of Tonkin Resolution với đại đa số phiếu ủng hộ Tổng thống Johnson trong chiến tranh Việt Nam. Không quân Mỹ được lệnh oanh tạc miền Bắc phía trên vĩ tuyến 17, người Mỹ bắt đầu trực tiếp can thiệp vào Việt Nam.



Sự can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa kỳ vào Việt Nam thực sự bắt đầu từ tháng 8-1964 cho tới ngày ký Hiệp định Paris tháng 3-1973, có hai giai đoạn rõ rệt từ 1964-1968 dưới thời Tổng thống Johnson và từ 1969-1974 dưới nhiệm kỳ cùa Tổng thống Nixon.
Giai đoạn 1964-1968. Năm 1965 là thời kỳ cao điểm của thuyết Domino chủ trương nếu mất Đông Dương sẽ mất cả Đông Nam Á như trong ván cờ domino.Tình hình miền Nam VN năm 1965 rất nguy kịch, trung bình một tuần mất một quận và một tiểu đoàn. Theo thăm dò của Viện Harris đại đa số (78%) người Mỹ, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ chính phủ can thiệp vào Đông Dương. Johnson không còn đường nào hơn là dổ quân vào để cứu VNCH. Sau này năm 1969 Tướng Wesmoreland có nói nếu Mỹ không đổ quân vào Đà Nẵng năm 1965 thì VNCH sẽ mất trong sáu tháng.

Cuối năm 1964 quân Mỹ tại miền Nam chỉ có 21,353 người (cố vấn) nhưng năm 1965 đã tăng vọt lên 185,000 ngàn người, năm 1966 lên 385,000, năm 1967 lên 485,600 và năm 1968 tới đỉnh cao 536,100. Người Mỹ đã bình định được miền Nam nhờ lực lượng hùng hậu, CS Bắc Việt bị thiệt hại nặng khoảng 350 ngàn cán binh trong những năm 1965, 66, 67 nhưng vẫn tiếp tục gia tăng xâm nhập từ miền Bắc. Kề hoạch chiến tranh giới hạn của Tổng thống Johnson chỉ cho lùng diệt địch tại miền Nam, không cho đánh vào hậu cần CSBV bên kia biên giới Miên, Lào, chỉ phòng thủ mà không tấn công. Johnson cho oanh tạc BV từ 1964 ngày càng leo thang nhưng vẫn hạn chế mục tiêu, mục đích chỉ là để hăm dọa BV để họ phải đàm phán nghiêm chỉnh.

Sau này Tổng thống Nixon chỉ trích sự sai lầm của Johnson trong kế hoạch chiến tranh hạn chế không khuất phục được Bắc Việt từ bỏ âm mưu thôn tính miền Nam, nó chỉ kéo dài chiến tranh khiến cho phong trào chống đối lên cao và tạo thời cơ cho Cộng sản đạt thắng lợi. Số thiệt hại nhân mạng của Mỹ tăng dần, năm 1965 có 1,863 lính Mỹ chết tại miền nam (kể cả những người chết trận cũng như những lý do khác), năm 1966 tăng lên 6,143 người, năm 1967 lên 11,153 người , năm 1968 lên 16,592 người, từ 1965 tới 1968 có tất cả 35,751 người thiệt mạng. Số lính Mỹ tử trận được truyền thông Mỹ thổi phồng khiến phong trào phản chiến ngày càng quyết liệt hơn.

Cuộc chiến của Johnson mới đầu được dân chúng ủng hộ nhiều nhưng từ từ giảm dần: Từ cuối năm 1965 tới cuối 1966 số người ủng hộ giảm từ 61% xuống 51% , từ đầu 1967 tới cuối năm giảm từ 52% xuống 46%, từ đầu 1968 tới tháng 10-1968 giảm từ 42% xuống còn 37% (nguồn Wikipedia). Sau trận Mậu Thân 1968 phong trào phản chiến trở nên dữ dội, tỷ lệ ủng hộ tụt thang nhanh chóng, người dân cho rằng chính phủ không thể thắng được cuộc chiến này, tỷ lệ chống chiến tranh lên cao đòi chính phủ rút quân về nước bỏ Đông Dương. Người Mỹ đã quá mệt mỏi vì cuộc chiến kéo dài không dứt.

Giai đoạn 1969-1973:
Nixon lên nhậm chức Tổng thống đầu năm 1969 khi gió đã đổi chiều, giai đoạn trước từ 1965-1968 Johnson được cử tri, Quốc hội ủng hộ đưa quân ồ ạt vào VN chống CS và giai đoạn sau từ 1969-1973, Nixon phải đem quân về nước, phục hồi hòa bình như đã hứa khi tranh cử.

Nixon gặp khó khăn vô cùng không được nhiều thuận lợi như thời Johnson, ông đã lãnh đủ, thừa hưởng gia tài đổ nát do cặp Johnson-McNamara để lại. Tỷ lệ người ủng hộ chiến tranh ngày càng giảm: Từ đầu 1969 tới tháng 10-1969 giảm từ 39% xuống 32%, từ đầu 1970 tới giữa 1971 giảm từ 33% xuống còn 28% (nguồn Wikipedia).

Trật tự nước Mỹ từ sau 1968 ngày càng tồi tệ, năm 1968 phản chiến chỉ là bất bạo động như biểu tình, đốt thẻ trưng binh nhưng sang năm 1969 khi Nixon lên làm TT đã tiến tới bạo động, đổ máu, sinh viên bắn cảnh sát, đốt nhà, đập cửa kính, ném bom lớp học... Năm 1969-1970 có 1,800 cuộc chống đối biểu tình, 7,500 người bị bắt, 247 vụ đốt nhà, 462 người bị thương. Bạo lực lan ra toàn quốc.

Ngày 18-3-1970 Thủ tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk và cho tấn công các lực lượng CS tại Miên, địch phản công dữ dội, tình hình quân sự tại đây rất đen tối. VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH.

Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh, tịch thu được 22,890 vũ khí cá nhân, 2,500 vũ khí cộng đồng, phá hủy nhiều cơ sở quân sự, làm suy yếu áp lực địch tại miền Nam VN.

Mục đích cuộc hành quân để đánh vào hậu cần CSBV ngõ hầu Hoa Kỳ có thể rút quân về nước thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh. Cuộc hành quân bị chống đối dữ dội, tính tới cuối tháng 5, khoảng 57% các đại học xá Mỹ tham gia biểu tình chống chiến tranh VN. Bạo động, đốt nhà, quân đội sô sát với sinh viên dữ dội.

Tháng 1-1971 Nixon ban lệnh hành quân cắt đường mòn Hồ Chí Minh, vì bị Quốc hội ngăn cản không cho chính phủ đưa quân Mỹ sang Lào, Nixon giúp Quân đội VNCH mở cuộc hành quân. Mỹ giúp chuyên chở và yểm trợ phi pháo, quân đội VNCH tiến sâu khoảng 20 dặm vào đất Lào theo đường số 9 để chiếm tỉnh Tchpone, nơi tập trung các tuyến đường xâm nhập của CSBV, kế tiếp tiến sâu hơn vào vùng xung quanh để phá hủy các cơ sở CS. Cuộc hành quân lấy tên Lam Sơn bắt đầu ngày 8-2-1971, Quân đội miền Nam chiến đấu anh dũng và hữu hiệu. Lực lượng gồm Sư đoàn 1 BB, Sư đoàn Dù, Liên đoàn 1 Biệt động quân và Lữ đoàn 1 Kỵ binh, Sư đoàn TQLC là lực lượng trừ bị, quân số lúc nhiều nhất là 17,000 người. BV phản công mạnh hơn ta tưởng rất nhiều.

Cuộc hành quân Lam Sơn chỉ thành công trong giai đoạn đầu, phá hủy được 405 xe vận tải, 106 chiến xa và nhiều kho quân trang, quân dụng, tiếp liệu, VNCH chiếm được Tchpone nhưng không giữ được lâu dài, phải tháo lui khi bị BV đưa lực lượng đông đảo tấn công. Nhìn chung hai bên đều bị thiệt hại nặng. Phía Mỹ có hơn 200 người chết và mất tích, VNCH hơn 2000 người chết và mất tích, BV khoảng hơn 10,000 người bị giết.

Ngày 30-3-1972, BV đem 10 sư đoàn chính qui cùng với xe tăng đại bác tấn công đại qui mô miền Nam. Họ tập trung ba Sư đoàn bộ binh, 200 xe tăng T-54, nhiều đại bác 130 ly vượt qua khu phi quân sự, nhiều đơn vị khác theo đường số 9 Hạ Lào hướng về Huế, hai Sư đoàn tiến về Kontum, ba Sư đoàn từ Miên tiến đánh Bình Long.

CSBV tiến nhanh và chiếm ưu thế ngay, Quảng trị mất cuối tháng tư 1972, An Lộc bị bao vây ngày 13-4, ngày 23-4 Kontum bị tấn công. Dân chúng chạy loạn bị Cộng quân pháo kích chết la liệt trên quốc lộ 1. TT Nixon cho oanh tạc phía trên vĩ tuyến 17 và tập trung hải lục không quân yểm trợ VNCH.

Ngày 8-5-1972 Nixon lên truyền hình, sau khi đã thông báo về cuộc tấn công xâm lược của BV, Hoa Kỳ muốn đàm phán nhưng BV không nghiêm chỉnh, ông sẽ ngăn chận cuộc tấn công xâm lăng của địch. Khi ấy phong trào phản chiến và truyền thông chống đối Nixon dữ dội, một tờ báo cho đây là canh bạc tuyệt vọng.

VNCH thắng thế CSBV tháng 5 -1972, BV đánh qui ước, lộ mục tiêu làm mồi cho B-52 và không quân VNCH. Nixon khẳng định muốn xử dụng vũ lực và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của nó, ông đã dùng hỏa lực vũ bão đánh BV và đạt kết quả mỹ mãn. Nixon trưng dụng tối đa các chiến hạm của Đệ Thất hạm đội, hơn 400 pháo đài bay B-52 và khu trục cơ F-4 để oanh kích cả hai chiến trường Nam Bắc.

Trong tháng 11-1972 Hải quân Mỹ đã pháo 16,000 tấn đạn xuống phía dưới khu phi quân sự và ném 155,000 tấn bom xuống miền Bắc, vì CSBV dàn quân đánh qui ước nên Mỹ đã xử dụng tối đa ưu thế của không quân để đè bẹp họ. Cảng Hải phòng một năm tiếp nhận 2.1 triệu tấn hàng gồm 85% quân dụng, vũ khí và 100% dầu, nhiên liệu, khi bị Hoa kỳ phong tỏa thì không một chiếc tầu nào ra vào hải cảng được, cuộc tấn công của địch bị khựng lại.

Tháng 6-1972, QLVNCH bắt đầu phản công, tại An Lộc các đơn vị trú phòng sau hơn hai tháng bị Cộng quân bao vây pháo kích tàn bạo, nay được sự yểm trợ của không quân Mỹ, họ bắt đầu phản công, sau hai tuần đã giải tỏa thị xã. Tháng 8 -1972 chiếm lại tỉnh Bình Long, cuối tháng 6-1972 VNCH tấn công mặt trận phía bắc, hơn hai tháng sau ba Sư đoàn VNCH đã đẩy 6 Sư đoàn BV ra khỏi Quảng Trị. Quân đội CSBV bị đánh tan nát, 75% xe tăng bị bắn cháy, cán binh CS tử thương khoảng từ 70 ngàn tới 100 ngàn người.

Thất bại trong cuộc tổng công kích, BV phải ngồi lại vào bàn hội nghị.
Hiệp định Paris được ký ngày 27-1-1973 tại khách sạn Majestic.

Hoa Kỳ bắt đầu rút quân 60,900 người năm 1969, năm 1970 rút 140,600 người. năm 1971 rút 177,800 người, năm 1972 rút 153,600 người. Nixon đưa ra hai kế hoạch để bảo vể VNCH: Viện trợ quân sự mỗi năm khoảng 2 tỷ đô la, yểm trợ oanh tạc B-52 nếu bị BV tấn công vi phạm Hiệp định nhưng các kế hoạch trên đã bị quốc hội phá hỏng. Họ cắt giảm quân viện tối đa: năm 1973 hai tỷ mốt (2,1 tỷ), năm 1974 còn 1,4 tỷ, năm 1975 còn 700 triệu, đồng thời ra luật (tháng 8-1973) cắt mọi khoản ngân sách cho tất cả hoạt động quân sự tại Đông Dương. Người Mỹ quá chán chiến tranh Đông dương khiến chính phủ phải rút quân bỏ miền Nam VN, quốc hội Dân chủ cắt quân viện bỏ rơi VNCH.

Tháng 3-1975 BV được CS quốc tế viện trợ quân sự dồi dào dốc toàn lực tấn công miền Nam VN, toàn bộ lực lượng khoảng 20 sư đoàn. Phần vì thiếu thốn tiếp liệu, đạn dược chỉ còn đủ xài trong một vài tháng, phần vì Tổng thống Thiệu sai lầm cho rút bỏ Cao nguyên khiến miền Nam sụp đổ nhanh chóng vào ngày 30-4-1975.

Tổn thất hai bên:
Hoa kỳ 58,193 người
VNCH: khoảng 200,000 người
BV khoảng 1 triệu cán binh và Mặt Trận Giải Phóng khoảng 100,000 người.
Thường dân chết trong cuộc chiến được ước lượng khoảng 300,000 người, (các tài liệu không thống nhất).

Phí tổn trực tiếp (direct cost) của Hoa Kỳ được ước lượng vào khoảng 160 hay 150 tỷ đô la đồng tiền năm 1975 hay trong khoảng từ 666 tỷ đô la tới 900 tỷ đô la năm 2008 vì đồng tiền mất giá khoảng 6 lần. Phí tổn toàn bộ (final cost) khoảng 350 tỷ. Phí tổn toàn bộ chiến tranh Việt Nam các tài liệu không hoàn toàn thống nhất nhưng nói chung vào khoảng gần 300 tỷ. Tính tương đương với giá tiền ngày nay vào khoảng từ 1,000 tỷ tới 2,000 tỷ.


Chiến Tranh Afghanistan
Lực lượng hai bên năm 2013:
NATO và Lực Lượng Yểm Trợ An Ninh Quốc Tế (ISAF) tổng cộng 100,330, Lực Lượng An Ninh Quốc gia Afghanistan: 380,586,
Tổng cộng 480,916 người.
Phiến quân: Taliban 25,000 người, Al-Qaeda từ 50-100 người
Tổng cộng kể cả các lực lượng khác trong khoảng từ 29,000 tới 40,000 người
Trên đây là các con số thống kê mới nhất.

Cuộc chiến tranh Afghanistan bắt đầu từ ngày 7 tháng 10 năm 2001 do Hoa Kỳ, Anh và Liên quân Bắc phương (Afghanistan) phối hợp để phá hủy tổ chức Al-Qaeda và lật đổ chế độ Taliban tại đây sau khi chúng gây ra khủng bố ngày 9-11-2001 tại New York làm thiệt mạng khoảng 3000 người. Trong vài tuần Mỹ Anh đã đã lật đổ chế độ Taliban ở thủ đô Kabul. Đa số cấp lãnh đạo Taliban chạy trốn qua Pakistan. Năm 2004 bầu cử chính phủ dân chủ ở Afghanistan. Lực Lượng Yểm Trợ An Ninh Quốc Tế (ISAF) gồm 42 nước do Nato đóng vai chính năm 2003, mục đích truy nã Bin Laden.

Năm 2003 Lực lượng phiến quân Taliban (Bộ chỉ huy đóng tại Pakistan) tấn công chính phủ mới và và Nato, chúng khủng bố thường dân. Năm 2009 có tới 76% thường dân chết vì phiến quân Taliban. Ngày 1-12-2009 TT Obama nói sẽ tăng thêm 30,000 quân cho chiến trường Afghanistan trong 6 tháng, năm 2014 sẽ rút quân.

Ngày 26-1- 2010 Hội nghị về Afghanistan tại Luân đôn gồm 70 nước và các tổ chưc tham dự , TT Afghanistan cho biết ông tỏ thiện chí hòa bình với giới chức lãnh đạo Taliban, kêu gọi mở hòa đàm nhưng sau đó được phiến quân đáp lại bằng pháo kích, ám sát, phục kích…

Phí tổn chiến tranh là động lực chính (major factor) khiến các giới chức chức Hoa Kỳ muốn rút quân năm 2011. Tháng 3-2011, Ủy ban nghiên cứu Quốc hội báo cáo:

1- Sau thông báo tăng quân năm 2009, chi phí của Bộ quốc phòng Mỹ với chiến trường Afghanistan tăng 50% từ 4,4 tỷ tới 6,7 tỷ một tháng, trong thời gian này quân số Mỹ tăng từ 44,000 lên 84,000 người và sẽ là 102,000 người trong tài khóa 2011.

2- Tổng số chiến phí tại Afghanistan từ 2001 tới 2006 chỉ hơn chiến phí riêng trong năm 2010 một chút – 93,8 tỷ . Chi phí quân sự tại Afghanistan tài khóa 2011 được dự tính là 118 tỷ.

Ngày 22-6-2011 TT Obama tuyên bố cuối năm 2011 sẽ rút 10,000 quân, kế tiếp sẽ rút 23,000 người vào mùa hè năm 2012.

Người Mỹ cho rằng tính tới tháng 6-2010, Afghanistan là cuộc chiến dài nhất của Mỹ nếu sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam bắt đầu từ ngày 7- 8 -1964 (vụ tầu Maddox) cho tới tháng 3-1973 (ký Hiệp định Paris)

Tổn thất của hai bên 2013:
Đồng minh Tây phương 3,340 tử trận trong đó Mỹ 2,246, Anh 444, Canada 158, Pháp 86, Đức 54, Ý 53, các nước khác 303 người.
Lực lượng chính phủ Afghanistan có 10,086 người chết, Liên quân Bắc phương 200 người
Phiến quân: Taliban có 38,000 người bị giết, Al Qaeda khoảng 20,000 chết. Toàn bộ các phiến quân tổng cộng từ 80,000 cho tới 100,000 người bị giết.(thống kê 2011)
Thường dân tử vong được ước lượng trong khoảng từ 16,725 tới 19,013 người (thống kê 2013).
Phí tổn ước lượng khoảng 467 tỷ hiện nay (2011)


Chiến Tranh Iraq
Lực lượng hai bên:
Khi tấn công Saddam Hussein (2003-2004)
Hoa Kỳ và các nước tham chiến 265,000 người, trong đó Hoa Kỳ 148,000, Anh 45,000, còn lại các nước khác.
Quân đội Iraq 375,000 người chính qui, ngoài ra còn Vệ binh cộng hòa 50,000, Bán quân sự 44,000, Trừ bị 650,000, Tổng cộng trên một triệu

Hoa Kỳ và Anh Quốc cho rằng Tổng thống Iraq Saddam Hussein sản xuât vũ khí giết người hàng loạt, kết án Saddam chứa và trợ giúp Al-Qaeda, trợ giúp bọn Palestine đánh bom tự sát, vi phạm nhân quyền con người. Hoa Kỳ - Anh cũng nêu lý do đem dân chủ tới Iraq.

Ngày 11-10-2002 Quốc Hội Hoa Kỳ thuận cho TT Bush đánh Iraq nếu không chấm dứt sản xuất vũ khí giết người hàng loạt. Ngày 17-3-2003 TT Bush cho Saddam Hussein 48 giờ để rời khỏi nước nhưng ông ta khước từ. Ngày 20-3-2003 Mỹ mở cuộc tấn công xuất phát từ Kuwait vượt 186 miles chưa tới một tuần. Ngày 9-4-2003 quân Iraq bị đánh tan, phía Liên quân có 200 người tử thương, Hoa Kỳ 138 người, quân của Saddam Hussein chết vào khoảng từ 7,600 tới 10,800 người.

Sau đó bọn khủng bố từ bên ngoài vào Iraq đánh du kích, đánh bom tự sát, đặt bom giết hại cả dân, lính.

Tổng thống Bush bị chỉ trích điều hành cuộc chiên kém đưa tới chỗ sa lầy làm chết nhiều người cho một mục đích không chính đáng, không chấp nhận được. Chính phủ không tìm được kho vũ khí hủy diệt hàng loạt như đã nói, bị chỉ trích là nói láo, Hoa Kỳ không bị đe dọa …

Tháng 7 năm 2003 đảng Dân chủ mở chiến dịch chống TT Bush, cho rằng ông ta nói láo, dân chết: (Bush lied, people died), Saddam Hussein không hề có vũ khí hủy diệt, cuộc chiến tranh không cần thiết

Năm 2005 Mỹ như bị sa lầy vào cuộc chiến, không thể thắng được đối phương.

Từ năm 2004 tới 2006 bị đặt bom bắn sẻ, dư luận ủng hộ cuộc chiến sút giảm, báo chí kêu than cuộc chiến tranh gây tốn kém, Hoa Kỳ bị sa lầy, không thể thắng được.

Ngày 16-6-2005 đã có 41 vị dân biểu đảng Dân Chủ đòi rút quân nhanh khỏi Iraq lấy cớ là chính phủ Bush tạo nguyên do giả, lừa gạt.

Tháng giêng năm 2007 Mỹ được nhiều thuận lợi hơn tại chiến trường này, TT Bush xin tăng thêm 20,000 quân để tận diệt phiến quân. Đảng Dân chủ tại quốc hội vận động bác bỏ dề nghị này nhưng việc tăng quân vẫn được tiến hành từ tháng 1 tới tháng 5-2007, Hoa Kỳ gửi thêm mỗi tháng 4,000 người tới Iraq.

Tháng 4-2007, thượng nghị sĩ Harry Reid khuyên người Mỹ bỏ cuộc, ông nói: “Tôi tin rằng chúng ta thua, tăng quân cũng không làm gì được” nhưng thực ra việc tăng thêm quân đã đè bẹp đối phương để giúp Iraq củng cố chính quyền.

Mùa xuân 2009 một cuộc nghiên cứu của chính phủ cho thấy số thường dân chết vì chiến tranh Iraq thấp hơn người ta tưởng rất nhiều. Trước đây người ta ước lượng trong khoảng 600,000 và một triệu nhưng cuộc nghiên cứu mới nhất dựa một phần trên những con số do Bộ Y Tế Iraq cung cấp, nó cho biết có 110,600 người Iraq chết từ ngày Mỹ đem quân qua đánh Iraq 6 năm trước. Ngoài ra trong số 110,600 người chết này đại đa số do khủng bố hoặc do xung đột giáo phái, chỉ có một số nhỏ có lẽ 10% hoặc ít hơn thế do Mỹ hoặc Liên quân gây ra.

Tổn thất hai bên năm 2011:
Quân của chính phủ Iraq chết 16,600 người
Lực lượng Liên hiệp Đồng minh: Chết 4,794 người trong đó Mỹ 4,470, Anh 179, các nước khác 139.. bị thương 32,600 hầu hết là Mỹ.
Quân Saddam Hussein khoảng từ 7,600 tới 10,800 người.
Phiến quân (sau khi Saddam Hussein bị lật đổ): Chết trong khoảng từ 21,220 tới 26,400 người, bị bắt làm tù binh 12,000, tổng cộng có trong khoảng 33,920 cho tới 37,120 người chết (Iraq).
Thường dân chết do đếm xác khoảng từ 103,160 cho tới 112,726 người
Con số do các nguồn ước lượng rât khác biệt, có nguồn cho 110,600, hay 601,000, nguồn khác cho môt triệu, Wikileak cho là 104,920…
Phí tổn: Theo tin Bộ quốc phòng Hoa Kỳ các cuộc hành quân Iraq trong 10 năm qua đã làm hao tổn khoảng 700 tỷ Mỹ kim, cũng có tài liệu khác (trên mạng) nói vào khoảng 800 tỷ. TT Obama tuyên bố sẽ rút hết quân khỏi Iraq cuối năm 2011. Vào ngày 18-12-2011, đơn vị cuối cùng của Hoa Kỳ đã rút khỏi Iraq chấm dứt cuộc viễn chinh của người Mỹ tại đây.


Nam Yết chuyển

No comments: