Hơn 10 năm qua, cả thế giới đã bị “kỳ tích Trung Quốc” làm cho
đau đầu mờ mắt, mọi người đều lo sợ không chen chân lên nổi toa tàu tốc
hành này. Khủng hoảng tài chính 2008 từ nước Mỹ lan rộng ra khắp thế
giới hình như không có tí ảnh hưởng nào đối với Trung Quốc đã làm cho
không ít người đâm ra sung bái kỳ tích Trung Quốc, sùng bái đến cao độ
như sùng bái một tôn giáo vậy.
Tuy nhiên vài tháng trở lại đây, kinh tế Trung Quốc với những số liệu
cảnh báo toàn diện, các con số cho thấy sự thu hẹp quy mô các đơn đặt
hàng của khu vực chế tạo, lượng tiêu thụ điện, xuất khẩu, nhập khẩu cũng
như chỉ số về lợi nhuận đều nói lên một điều: nền kinh tế đang đi
xuống. Trên “Nhân Dân nhật báo” vào 22 tháng 5 năm nay dẫn lời các
chuyên gia cảnh báo, Trung Quốc đang đứng trước sự mất tốc độ của cỗ xe
tam mã kéo nền kinh tế là xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư. Với các hình
mẫu tạo nên kỳ tích kinh tế như Đông Hoản ở Quảng Đông, Ôn Châu ở Triết
Giang, Côn Sơn ở Giang Tô và các nơi khác, đã xuất hiện làn sóng công
xưởng đóng cửa, công ty phá sản, chợ búa tiêu điều với tình hình ngày
càng nghiêm trọng.
Những hiện tượng trên kỳ thực cũng ko đáng để kinh ngạc cho lắm. Động
lực của kỳ tích kinh tế Trung Quốc trước nay được xây dựng trên kết cấu
giá nhân công rẻ mạt, sự mất cân bằng trong kết cấu tiêu dùng. Kết cấu
này sớm muộn gì cũng phải điều chỉnh, điều chỉnh càng muộn càng dẫn tới
hậu quả xấu.
Tiền lương trung bình trong khu vực chế tạo của Trung Quốc từ 20 năm
nay vẫn duy trì ở mức bằng 1/5 so với khu vực chế tạo ở Mỹ. Còn thấp hơn
các quốc gia Châu Á khác phát triển theo con đường dựa vào xuất khẩu
khác thời họ mới bắt đầu cất cánh (Tiền lương trung bình trong khu vực
chế tạo ở Taiwan và Hàn Quốc ở những năm 1970 đã đạt tới ½ so với Mỹ ).
Trung Quốc có thể dìm lương trung bình của công nhân thấp trong thời
gian dài như vậy không thuần túy là từ nguyên nhân kinh tế và nhân khẩu,
mà bắt nguồn từ bối cảnh chính trị và xã hội sâu xa:
Một là sau khi công xã nhân dân giải thể, nông thôn ở Trung Quốc
trong một thời gian dài thiếu nguồn đầu tư, dẫn tới một số lượng lớn
nguồn lao động đổ xô tới các vùng công nghiệp duyên hải phía Đông tìm
việc làm. Nguyên nhân con người dẫn tới “nguồn cung ứng nhân lực không
bao giờ cạn”. Tình hình này ở thập niên 90 còn mạnh mẽ hơn với sự xuống
dốc của các xí nghiệp địa phương.
Hai là chính quyền địa phương kết hợp với doanh nghiệp theo kiểu
“liên minh tiền – quyền” tạo nên môi trường thể chế có lợi cho việc đàn
áp sự phản kháng tập thể của công nhân. Tạo nên thế yếu về chính trị của
công nhân trong thời gian dài.
Tiền lương thấp tuy có lợi cho sự cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc
trên thị trường nước ngoài nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng tới sức tiêu
dùng trong nước khi luôn tụt lại sau sự tăng trưởng của sản xuất. Tỉ lệ
tiêu dùng cá nhân của Trung Quốc trên tổng sản phâm quốc gia GNP từ mức
xấp xỉ 50% ở những năm đầu 90 hạ xuống dưới 40% như hiện tại. So với 4
con rồng Châu Á lúc mới cất cánh, tỉ lệ tiêu dùng chiếm xấp xỉ 60%. Với
khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra, nhu cầu của thị trường nước ngoài
không ngừng thu hẹp lại, các doanh nghiệp Trung Quốc buộc phải tính kế ở
thị trường nội địa, điều này mười phần khó khăn.
Vào năm 2005, sau khi đôi Hồ Cẩm Đào-Ôn Gia Bảo nắm chắc quyền lực
trong tay, Trung Cộng bắt đầu đưa ra những chính sách về cải cách kinh
tế và phân phối thu nhập mới để thu hẹp tình trạng mất cân bằng của kinh
tế [với khái niệm “xã hội hài hòa”]. Ví dụ như gia tăng đầu tư cho nông
thôn, tăng lương cho tầng lớp công nhân, các quỹ trợ cấp việc làm…
những chính sách này đã có thành công bước đầu, nâng cao mức lương cũng
như kích thích tiêu dùng của dân chúng. Tuy nhiên những cải cách này vừa
mới bắt đầu chưa được bao lâu đã gặp ngay khủng hoảng kinh tế toàn cầu,
nền kinh tế bước vào giai đoạn có biến động lớn, những cải cách này
cũng theo đó dừng lại. Hai năm gần đây, chúng ta thường nghe thấy cụm từ
“tiền lương tăng mạnh” ở Trung Quốc, tuy nhiên so với những quốc gia
xung quanh ở Đông Á ở cùng thời kỳ phát triển trước đây thì sự tăng
trưởng này rõ ràng không thấm vào đâu cả.
Cuối năm 2008, Bắc Kinh vì muốn ngăn chặn những ảnh hưởng xấu từ việc
xuất khẩu bị sụt giảm mạnh đã mạnh tay đưa ra những gói đầu tư kích
thích kinh tế khổng lồ phần lớn tập trung vào lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ
tầng, kích thích làn sóng chi tiêu và cho vay trong cả nước. Điều này đã
làm cho nền kinh tế có được đà phục hồi ngoạn mục vào năm 2009.
Liều thuốc kích thích đã thành công, tuy nhiên lại không giúp ích gì
cho tỉ lệ tiêu dùng tăng trưởng, cũng như không thể nào thay đổi được kế
cấu của nền kinh tế dựa vào xuất khẩu và đầu tư công để phát triển này.
Nó không những làm trầm trọng thêm tình trạng vay nợ tràn lan để lấy
tiền đầu tư vô tội vạ của các chính quyền địa phương, còn đưa tới tỉ lệ
nợ xấu của các ngân hàng lên tới tỉ lệ nguy hiểm với tốc độ nhanh. Sản
lượng công nghiệp dư thừa tới mức báo động xấu thì không càng không cần
phải nói. Truyền thông nhà nước cũng thừa nhận, không ít doanh nghiệp
nhà nước sau khi được lãnh các khoản cho vay kích thích, không mang toàn
bộ số tiền đó đầu tư vào nền kinh tế thực thể, mà mang tiền đầu cơ vào
thị trường cổ phiếu và bất động
Ngoài ra, nhiều công trình được thực hiện trong gói kích thích là
những kế hoạch đã được quy hoạch từ lâu. Liều thuốc kích thích này chỉ
làm cho những công trình đáng lẽ phải được thi công xây dựng trong 4,5
năm hay dài hơn mới xong thì được rút ngắn xuống còn 1,2 năm là hoàn
thành. Một ví dụ là hệ thống đường sắt cao tốc trên toàn quốc. Điều này
không những đưa đến những vấn đề về chất lượng công trình (với những vụ
tai nạn trên tuyến đường sắt cao tốc ở Ôn Châu cũng như những vụ sập cầu
gần đây không phải là không có liên quan gì) mà còn làm cho các chính
phủ địa phương sau những màn “đại nhảy vọt” xây dựng các công trình càng
khó tìm thấy những dự án có hiệu suất kinh tế khác.
Nền kinh tế Châu Âu và Mỹ vẫn chưa khởi sắc trở lại, đầu tàu xuất
khẩu của kinh tế Trung Quốc đang chìm nhanh. Ở các chính phủ địa phương
và doanh nghiệp nhà nước sau khi tiêm thuốc kích thích thì nợ xấu đã
chất cao như núi. Bắc Kinh có thể có những biện pháp không cần để ý đên
hiệu suất kinh tế, thông qua những phương án “xây cầu xong lại đập bỏ
còn xây mới” tạm thời giữ cho con tàu khỏi chìm quá nhanh, nhưng sẽ phải
đương đầu với một vụ nổ khủng khiếp từ những quả bom nợ khổng lồ của
nghành ngân hàng.
Hai mươi năm qua, mô hình kinh tế Trung Quốc đã làm cho cả thế giới
phải than phục đã đi gần tới đoạn kết. Trong một tương lai không xa,
những nước láng giềng của Bắc Kinh, với những thử thách khi nền kinh tế
Trung Quốc đang phải vật lộn để cân bằng, có lẽ là không kiếm được tí xơ
múi gì, mà phải làm sao tự thân vận động nuôi thân.
Khổng Cáo Phong - Hu Zi dịch |
No comments:
Post a Comment