Sunday, August 5, 2018

Bắc Kinh giành lấy quyền kiểm soát Biển Đông như thế nào Simon Roughneen | Trà Mi

Tàu chiến và chiến đấu cơ của Trung Quốc trong một cuộc phô diễn sức mạnh quân sự ở Biển Đông vào ngày 12 tháng Tư. © Reuters
SINGAPORE – Ngay cả theo tiêu chuẩn bộc trực của ông Rodrigo Duterte, Tổng thống Philippines thuật lại một cuộc trò chuyện giữa ông với người đối tác Trung Quốc, Tập Cận Bình, là một câu chuyện đáng giật mình.

Trong một cuộc họp giữa hai người lãnh đạo quốc gia ở Bắc Kinh hồi tháng 5 năm 2017, chủ đề đã chuyển sang việc liệu Philippines có muốn khoan dầu trong một phần ở Biển Đông nơi mà cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Duterte cho biết ông đã bị Chủ tịch Trung Quốc cảnh cáo thẳng thừng. Duterte kể lại,
“[Xi] trả lời với tôi [là], ‘Chúng ta là bạn, chúng tôi không muốn cãi nhau với nước bạn, chúng tôi muốn duy trì sự hiện hữu của mối quan hệ thân thiết, nhưng nếu ông nhất định thế, chúng ta sẽ đi đến chiến tranh.’”
Một năm sau, Duterte được yêu cầu trả lời bản tin nói rằng Trung Quốc đã đưa những máy bay ném bom tầm xa đến một đảo trong Quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông — một cột mốc cho thấy Không quân của Giải phóng Quân có thể dễ dàng bay đến bất kỳ nước nào ở Đông Nam Á bằng một đoạn bay ngắn từ những sân bay mới. Duterte trả lời,
“Hỏi liệu các máy bay có hạ cánh xuống đó hay không để làm gì?”
Việc ông Duterte từ chối lên án Trung Quốc lặng lẽ củng cố sức mạnh quân sự ở Biển Đông nhấn mạnh họ đã thành công trong việc khuất phục được các đối thủ đang tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở vùng biển này. Kể từ năm 2013, Trung Quốc đã mở rộng các đảo nhân tạo và các rạn san hô trên biển và sau đó đã xây dựng một mạng lưới phi đạo, bệ phóng hỏa tiễn, doanh trại và các cơ sở truyền thông trong khu vực này.
Những cuộc leo thang sức mạnh quân sự này đã khiến nhiều người tự hỏi liệu Bắc Kinh đã thiết lập quyền kiểm soát không thể tấn công nổi ở những vùng biển đang tranh chấp. Brunei, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam cũng có những tuyên bố tròng chéo lên các phần của vùng biển phía Nam Trung Hoa và các hòn đảo ở đó — những tuyên bố chủ quyền đó đang ngày càng trở nên tuyệt vọng trước việc tích tụ lực lượng quân sự của Trung Quốc. Ông Jay Batongbacal, Giám đốc Viện Hàng Hải Vụ và Luật biển thuôc Đại học Philippines nhật xét,
“Những gì Trung Quốc thắng là sự kiểm soát gần như toàn bộ Biển Đông, gồm tất cả các hoạt động và tài nguyên trong đó, bất chấp các quyền và quyền lợi hợp pháp khác của các nước Đông Nam Á.”
Đang bị đe dọa là sức mạnh thương mại và quân sự khổng lồ có được một khi đã việc kiểm soát một trong những đường vận chuyển hàng hải quan trọng nhất trên thế giới – hàng hóa đi qua đó lên tới 5 nghìn tỷ đô la giá trị giao dịch mỗi năm.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ phải đối diện với “hậu quả” cho việc “quân sự hóa” vùng biển phía Nam Trung Hoa, mà ông nói đang được thực hiện nhằm “mục đích đe dọa và ép buộc.”
Tranh chấp chủ quyền tròng chéo ở Biển Đông.
Vào này 2 tháng 6, tại Đối thoại Shangri-La Singapore — một hội nghị an ninh được Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế có trụ sở tại Luân Đôn tổ chức — Mattis nói,
“Những hậu quả đó sẽ tiếp tục trở quay lại ám ảnh Bắc Kinh nếu họ không tìm được giải pháp để cộng tác tốt hơn với tất cả các quốc gia.”
Mac Thornberry, Chủ tịch Ủy ban Quân sự ở Quốc hội Mỹ, nói thêm rằng sự hiện diện Hải quân của Hoa Kỳ có nghĩa là không phải Trung Quốc muốn làm gì ở Biển Đông cũng được.
Thornberry nói với tạp chí Nikkei Asian Review:
“Tôi nghĩ rằng quý vị sẽ thấy ngày càng nhiều quốc gia cùng làm việc để khẳng định quyền tự do hàng hải trên Biển Đông và các vùng biển quốc tế khác.”
Nhưng những hậu quả đó là gì thì Mattis lại không nói rõ. Ông đã gợi ý rằng có rất ít tiềm năng để buộc Trung Quốc phải từ bỏ mạng lưới những cơ sở quân sự mà họ đang phát triển nằm rải rác trên vùng biển phía Nam Trung Hoa. Mattis nói thêm,
“Chúng ta đều biết hiện không ai sẵn sàng xâm lược.”
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis đã lên tiếng về chiến lược “Ấn Độ-Thái Bình Dương” trong bài phát biểu ngày 2 tháng 6 tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore. Ảnh của Simon Roughneen.
Gregory Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế có trụ sở tại Mỹ nói:
“Không có cơ sở hợp lý để Hoa Kỳ sử dụng vũ lực đẩy Trung Quốc ra khỏi những tiền đồn [mới xây dựng] của họ, cũng như không có bất kỳ quốc gia nào trong khu vực lại ủng hỗ một nỗ lực như vậy.”
Sự phản công của Mỹ cho đến nay chỉ gồm việc rút lại lời mời Trung Quốc tham gia một cuộc tập trận hải quân lớn ở Thái Bình Dương. Mỹ cũng tiếp tục thực hiện cái gọi là chiến dịch tự do hàng hải, hoặc FONOPs (freedom of navigation operations), gần đây nhất trong số những chiến dịch đó diễn ra vào ngày 27 tháng 5. Theo sau đó là việc máy bay quân sự Mỹ bay trên quần đảo Hoàng Sa vào đầu tháng Sáu, một hành động khiến Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng tố cáo ngược là Mỹ đang “quân sự hóa” khu vực.
Trung tướng He Lei, đại diện chính của Bắc Kinh tại hội nghị Singapore nói, Trung Quốc coi các FONOP là nhưng màn dương oai diệu võ và là “một thách thức đối với chủ quyền [của chúng tôi].”
Ông đã tuyên bố lại lập trường của chính phủ TQ về quân đội và vũ khí trên các hòn đảo ở Biển Đông, mô tả việc củng cố quân sự đó như một sự khẳng định chủ quyền và cho rằng các cáo buộc về quân sự hóa đã được Hoa Kỳ “thổi phồng”.
Lợi thế của nước lớn.
Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana dù không tuyên bố ủng hộ FONOPs nhưng đã nói với tờ Nikkei Asian Review rằng “Chúng tôi tin rằng những con đường biển này phải được mở và được tự do đi lại.”
Trái ngược với Duterte, không sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc, người tiền nhiệm của ông là tổng thống Benigno Aquino, thường xuyên thẳng thắn lên tiếng về sự kiểm soát ngày càng tăng của Trung Quốc trên vùng biển. Ông đã nộp đơn kiện Bắc Kinh tại tòa trọng tài vào năm 2013 sau một một cuộc bế tắc hàng hải kéo dài đã xẩy ra năm trước đó quanh vùng bãi cạn Scarborough, một khu vực được cả hai quốc gia tuyên bố có chủ quyền và nằm cách bờ biển Luzon khoảng 120 hải lý.
Vào giữa năm 2016, tòa trọng tài đã bác bỏ tuyên bố đường “chín gạch” mà Trung Quốc dùng để tuyên bố chủ quyền gần như hầu hết vùng biển rộng lớn phía Nam Trung Hoa cũng như việc xây dựng và mở rộng đảo nhân tạo của họ, tất cả những điều đó, tòa trọng tài phán, đều vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982 về Luật Biển hoặc UNCLOS.
Duterte cho biết ông sẽ không “phô trương” kết quả phán quyết của của tòa trọng tài, mâu thuẫn với những cam kết khi vận động tranh cử là ông sẽ khẳng định chủ quyền của đất nước – ông thậm chí còn thề sẽ lái một chiếc máy bay phản lực đến một trong những hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc và dựng lá cờ Philippine ở đó. Manila hy vọng vào những đầu tư quan trọng của Trung Quốc vào đường bộ, đường sắt và hải cảng, như một phần của Sáng kiến Một Vành đai Một Con đường của Bắc Kinh, một kế hoạch đa dạng phác thảo các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng do Trung Quốc hậu thuẫn.
Giới hoạt động Philippines tập trung bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc tại Manila hồi tháng Hai để phản đối các hoạt động xây đắp đảo liên tục của Bắc Kinh tại Biển Đông. © Reuters
Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Lorenzana nhấn mạnh trong lời tuyên bố với giới truyền thông ở Singapore rằng mối quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc vẫn là một ưu tiên, bất kể tranh chấp song phương. “Thật chỉ là việc tự nhiên khi chúng tôi kết bạn với người hàng xóm. Chúng tôi không thể tránh quan hệ với Trung Quốc, họ ở gần, [và] nhiều người Philippines, kể cả tôi, có giòng máu Trung Quốc.”
Đối với Philippines, một đồng minh có hiệp ước với Mỹ; Duterte, người phê bình Mỹ một cách thô lỗ, đã đặt câu hỏi công khai, trong lúc ngày càng có nhiều nghi ngờ về việc hải quân Mỹ sẽ bảo vệ họ trong cuộc xung đột với Trung Quốc hay không.
Mattis, như cựu Tổng thống Barack Obama và cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, đã lờ đi khi được hỏi về vấn đề này ở Singapore, nói rằng,
“Lý do tại sao các nhân vật của công chúng không muốn trả lời cụ thể là vì đây là những vấn đề phức tạp.”
Sự tránh né của Mỹ là một lời nhắc nhở cho Philippines rằng Hoa Kỳ có thể không dám khai chiến với Trung Quốc để bênh vực đồng minh của họ. Batongbacal thuộc Đại học Philippines cho biết,
“Điều có thể gây tranh cãi là liệu người Philippines có tin rằng Mỹ sẽ bảo vệ họ trong cuộc xung đột với Trung Quốc hay không. Những tuyên bố lặp đi lặp lại của Duterte về mức độ có thể tin cậy vào Hoa Kỳ như một đồng minh có khuynh hướng làm suy yếu thêm điều này.”
Sự dè dặt của Duterte đã khiến Việt Nam trở thành nước duy nhất có chủ quyền trên vùng biển đó sẵn sàng lên tiếng. Thảo luận về diễn biến gần đây tại Biển Nam Trung Hoa, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Ngô Xuân Lịch, nói tại hội nghị Singapore,
“Trong mọi trường hợp, chúng tôi không thể tha thứ cho việc quân sự hóa bằng cách đưa vũ khí và quân cụ đến các khu vực đang tranh chấp chống lại những cam kết của khu vực.”
Lịch không nêu tên Trung Quốc trong bài phát biểu của mình, nhưng mô tả một quốc gia khác “đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền [của nước bạn], vi phạm pháp luật quốc tế, làm phức tạp tình hình và ảnh hưởng tiêu cực đến hòa bình, ổn định và an ninh khu vực.”
Cũng như đã cản trở các dự án dầu khí ở vùng biển gần Việt Nam, Hải quân Trung Quốc đã quấy rầy các tàu đánh cá Việt Nam trong nhiều năm qua – như nó đã làm như vậy quanh Philippines – và tiếp tục giữ các đảo đã chiếm của Việt Nam gần 50 năm trước.
Trong năm 2014, các cuộc bạo động chống Trung Quốc khởi động trên khắp Việt Nam sau khi họ đưa một giàn khoan dầu vào một vùng biển phía Nam Trung Hoa mà Hà Nội tuyên bố có chủ quyền. Đầu tháng 6 năm nay đã có những cuộc biểu tình chống lại những đề nghị mà những người biểu tình tuyên bố sẽ cho các doanh nghiệp Trung Quốc được quyền ưu tiên khai thác cái gọi là Đặc Khu Kinh tế ở Việt Nam.
Giàn khoan dầu khí ở mỏ Lan Tây, do Rosneft Việt Nam khai thác, nằm ở Biển Đông ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Trung Quốc đang cản trở hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam trên biển. © Reuters
Phản ứng của Việt Nam đối với sự có thể bị cô lập là tạo một sự liên minh thận trọng với Hoa Kỳ. Vào cuối năm 2016, ngay trước kỳ bầu cử Donald Trump thành tổng thống Mỹ, các tàu chiến Mỹ đậu tại căn cứ hải quân vịnh Cam Ranh của Việt Nam, đó là chuyến thăm đầu tiên như vậy kể từ khi hai nước cựu thủ bình thường hóa quan hệ với nhau vào năm 1995. Bước ngoặt tiếp theo là vào tháng Ba năm nay một hàng không mẫu hạm Mỹ đã đến đến thành phố Đà Nẵng ở miền trung Việt Nam.
Gần đây, Hà Nội kêu gọi sự tham gia của Nhật Bản nhiều hơn vào các cuộc tranh chấp hàng hải trong khu vực, có lẽ đây là một dấu hiệu cho thấy sự quan tâm đến một nỗ lực lớn hơn để chống lại Trung Quốc. Nhưng không giống như Philippines, Việt Nam lại giống như Trung Quốc là nước độc đảng, do cộng sản lãnh đạo, và không phải là một đồng minh của Mỹ. Những khác biệt lịch sử và ý thức hệ có nghĩa là có những giới hạn về mức độ gần gũi của Việt Nam đối với Hoa Kỳ.
Lê Thu Hương, chuyên gia phân tích cao cấp tại Học viện Chính sách chiến lược Úc cho biết,
“Tôi nghĩ rằng có một đà tốt trong việc hợp tác quốc phòng với Mỹ Nhưng tôi không nghĩ rằng Việt Nam sẽ ngay lập tức nhảy vào ‘phe của Mỹ’, bất kể điều đó có nghĩa là gì.”
Từ Bollywood đến Hollywood
Hoa Kỳ đã tìm cách mở rộng lực lượng các quốc gia mà họ hy vọng sẽ tham gia vào việc chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc đang gia tăng. Trong suốt thời gian dài 12 ngày công du xuyên Châu Á vào cuối năm 2017, Trump đã bỏ vào những bài phát biểu của ông những nhóm chữ như “Ấn Độ-Thái Bình Dương”, thay cho nhãn hiệu đã quen thuộc “Châu Á-Thái Bình Dương” bao quát hơn đã được Nhật Bản dùng trước nhất.
“Ấn Độ-Thái Bình Dương” sau đó được đề cập trong suốt tài liệu Chiến lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ được công bố ngay sau chuyến đi Châu Á của Trump – một tài liệu cáo buộc Trung Quốc muốn “thách thức quyền lực của Mỹ” và “đang sử dụng những món mồi và hình phạt kinh tế, những chiến dịch gây ảnh hưởng, và những ám chỉ đe dọa quân sự để thuyết phục các nước khác phải chú ý đến chương trình nghị sự chính trị và an ninh của Trung Quốc.”
Biểu đồ ngân sách quân sự của Trung Hoa, Việt Nam và Philippines từ 2007. 
Ba ngày trước khi diễn thuyết tại Singapore, Mattis tuyên bố ở Hawaii rằng Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ sẽ được đổi tên thành Bộ Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương, mô tả sân khấu mở rộng kéo dài “từ Bollywood đến Hollywood”.
Mattis sau đó đã trang trọng hóa thêm cho cụm từ của giới điện ảnh, nói ở Singapore rằng “đứng sánh vai với Ấn Độ, ASEAN và các đồng minh có hiệo ước với chúng tôi và các đối tác khác, Mỹ đang muốn xây dựng một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, nơi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ – lời hứa vì tự do sẽ được tôn trọng và thịnh vượng sẽ lan tràn đến tất cả mọi người.”
Chính quyền Trump rõ ràng hy vọng sẽ có sự tham gia nhiều hơn của Ấn Độ trong nỗ lực chống lại ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Kori Schake, Phó Tổng Giám đốc của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế, nói rằng trong khi “Ấn Độ-Thái Bình Dương chưa phải là một cụm từ có uy tín của từ vựng,” nhưng ý nghĩa của thuật ngữ này thật đã rõ ràng.
Schake, một công chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết, “Ấn Độ là một nước mạnh ở châu Á. Những quốc gia sử dụng thuật ngữ này đang khuyến khích Ấn Độ hợp tác nhiều hơn trong việc duy trì các đường hàng hải chung trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.”
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi thuyết trình trong cuộc đối thoại Shangri-La, một hội nghị an ninh hàng năm, tại Singapore vào ngày 1 tháng Sáu. Nguồn ảnh: Simon Roughneen.
Modi nhiệt tình lập lại tu từ của chính phủ Mỹ về một “tầm nhìn chung về sự cởi mở, ổn định, an toàn và thịnh vượng” của khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, mà ông mô tả là “một vùng tự nhiên” – phản biện lại những người đặt câu hỏi liệu một khu vực trải dài từ Bollywood đến Hollywood có quá rộng và quá khác nhau để được đúc thành một thực tế địa chính trị trên thực tế hay không.
Nhưng Modi cũng hết lời khen ngợi Trung Quốc, mặc dù đang có tranh chấp biên giới với Ấn Độ và ngày càng siết chặt quan hệ kinh tế với Pakistan, hàng xóm của Ấn Độ và đối thủ hạch tâm. Modi nói,
“Sự hợp tác của chúng ta đang mở rộng. Thương mại đang phát triển. Và, chúng ta đã thể hiện sự trưởng thành và khôn ngoan trong việc quản lý các vấn đề và bảo đảm một biên giới hòa bình.”
Bộ ngoại giao Trung Quốc mô tả bài phát biểu của Modi là “tích cực”, trong khi một phái đoàn quân sự của Trung Quốc tại hội nghị Singapore hả hê rằng Ấn Độ và Hoa Kỳ “có xự hiểu biết khác nhau, những cách giải thích khác nhau về khu vực Ấn Độ-Thài Bình Dương này.”
Hàng không mẫu hạm đầu tiên do Trung Quốc thiết kế và đóng tại nội địa. © Kyodo
Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi các đối thủ của Trung Quốc ở vùng biển phía Nam Trung Hoa vẫn chưa quan tâm đến việc xây dựng liên minh Ấn Độ-Thái Bình Dương mới thành một cái gì đó để khơi gợi hy vọng của họ khi phải thảo luận đến việc kiểm soát trên biển.
Ngô Xuân Lịch cho biết:
“Chúng tôi đang chứng kiến sự di chuyển quyền lực lớn đến khu vực Châu Á-Thái Bình Dương với chiến lược “Ấn Độ-Thái Bình Dương”, “Sáng kiến Một Vành đai, Một Con đường” và “một loạt các nhóm quốc gia trong khu vực” đồng thời cảnh cáo rằng “tương lai của khu vực và của thế giới vẫn chưa được tiết lộ.”
Người đối tác Philippines của ông Ngô Xuân Lịch còn thận trọng hơn nữa, đặc biệt là về khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương, Lorenzana nói,
“Tôi phải nghiên cứu thêm. Đây là một cấu trúc mới trong khu vực này.”
© 2018 DCVOnline

Nguồn: How Beijing is winning control of the South China Sea . Simon Roughneen, Asia regional correspondent | Nikkei Asian Review | Tuesday, June 13, 2018. Biên tập viên Nikkei Mikhail Flores ở Manila và Atsushi Tomiyama tại Hà Nội đã đóng góp cho bài viết này.


Vũ Thất
neo

No comments: