Total Pageviews

Once sailor, forever sailor

Wednesday, November 21, 2012

Việc tiếp tế vũ khí cho VC bằng đường biển của miền Bắc để thực hiện chiến tranh tại miền Nam.


http://farm4.staticflickr.com/3463/4048630285_aa9c63264f_b.jpg

Tàu vận chuyển của cộng sản Bắc Việt bị Hải Quân VNCH bắt kéo về triển lãm trên sông Sài Gòn.
Lời nói đầu:
Bài viết này được soạn vào năm 2008 với những tài liệu thu thập từ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Hoa Kỳ trong cuộc Hành Quân Market Time nhầm ngăn chận việc tiếp tế vũ khí và người từ miền Bắc vào miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt bằng đường Biển. Bài viết củng đã dùng những tài liệu của Hải Quân Cộng Sản Bắc Việt trong Lịch Sử Hải Quân Nhân Dân Việt Nam (1955-2005) để nhấn mạnh thêm về chứng cớ và chi tiết của sự lãnh đạo của Cộng Sản miền Bắc với sự chi viện của Trung Quốc trong suốt cuộc chiến xâm lăng Miền Nam...
Tháng 9 năm 2011, một loạt bài viết trên Báo Quân Đội Nhân Dân online cho khởi đăng các bài báo để Kỷ niệm 50 năm đường mòn Hồ Chí Minh trên biển,trong phần mở đầu báo này đã viết: “Từ năm 1961-1975 trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đã có 1,789 chuyến tàu không số, vận chuyển 150,000 tấn vũ khí trang bị và 80 ngàn lượt cán bộ vượt qua hàng vạn hải lý…”  
Dỉ nhiên  loại thông tin này là nhằm thổi phòng chiến tích nhưng một lần nửa Cộng Sản vốn giả dối đã lộ bộ mặt lừa đảo dư luận Thế giới,dư luận này vốn bất nhân tiếp tay hạ gục  Việt Nam Cộng Hòa một Quốc Gia non trẻ đang bước những bước đi khó khăn trên đường tiến về phía trước và đã ngả gục với sự tiếp tay của thù trong và giặc ngoài.
Thời điểm của những ngày trước tháng 4 hàng năm, xin được ghi lại những cố gắng của những người đã chết trên chiến trường trước năm 1975, những người bỏ xác trên vùng biển Việt Nam trên đường tìm Tự Do ,và những người đã liên quan đến cuộc chiến tranh này nhất là các người Tỵ Nạn vượt biển, vượt biên đã một thời dùng hết sức mình để bảo vệ cho Miền Nam.
Cám ơn những bạn Đồng minh Hải Quân Hoa Kỳ đã phục vụ trên các chiến hạm, chiến đỉnh trong hành quân Market Time  và hơn hết,bài viết này dành tặng cho các anh chiến sỉ Hải Quân và các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa còn ở lại trong nước,các anh đã hứng chịu tất cả những khổ đau về tinh thần lẫn thể xác, luôn  tổn thương vì bị sỉ nhục qua các sách báo và bài viết về cuộc chiến bởi hệ thống tuyên truyền  của chánh quyền Cộng Sản.
 
Tháng 4 năm 2012.
Người biên soạn: Phùng Học Thông
Phần I . Phần  một của bài viết  nầy được dựa vào tài  liệu  trích  từ  bản  báo cáo hàng tháng của COMNAVFORV vào tháng 6 năm 1966,  phần phụ lục IV  từ trang  đến trang    7   .  [1]
http://i.ebayimg.com/t/VIETNAM-WAR-PATCH-US-NAVY-MARKET-TIME-/00/s/MTIwMFgxNjAw/$(KGrHqFHJBUE+McLYNsnBQKD,THJ7Q~~60_35.JPG
Huy hiệu hành quân Market Time.


Từ những năm đầu của thập niên1960, cộng sản Bắc Việt đã tăng cường đưa cán bộ xâm nhập miền Nam, tiếp tay với những cán bộ nằm vùng còn ở lại sau năm 1954 để thành lập Trung ương cục miền Nam (cục R) ,Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chánh phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.
Binh đoàn Bắc Việt được đưa vào Nam để chỉ huy và phối hợp cùng du kích nằm vùng ,tổ chức những toán tiếp nhận và phân phối vũ khí từ miền Bắc xâm nhập vào Nam bằng đường biển.
Đường tiếp tế vũ khí nầy phần lớn đưa vũ  khí vào Nam,tại những vùng mật khu bất khả xâm phạm tại vùng mũi Cà Mau vào thời gian của đầu  thập niên 1960 gồm cả hai phía Đông (các cửa sông Cửu Long) và Tây (U Minh thượng và hạ).
Chúng ta hảy thử đọc một tài liệu từ tin tức thu thập qua một  Cán bộ Bắc Việt tên là Nguyễn Văn Xuân,  bí danh Tư Dũng ,chính trị viên Đại đội 868 trách nhiệm những chuyến tiếp vũ khí xâm nhập vào vùng Cà Mau.
Theo lời kể của Tư Dũng thì từ năm 1963 đến năm 1965 có tất cả 42 chuyến tiếp tế bằng đường biển từ Bắc vào Cà Mau : 
                                                Năm 196320  chuyến.
                                                Năm 1964,   15  chuyến.
                                                Năm 1965,   7  chuyến.
Ta hảy xem thử lời khai của người Cán binh này trong  tài liệu trích từ bản báo cáo:
Ngày đến của những chuyến tàu  tiếp tế  .
Ngày đến chính  xác không được ấn định trước vì còn tùy thuộc vào thời tiết và tình  trạng  an  ninh của các chuyến đi, tuy nhiên dựa vào những chuyến đến trước đó thì Tư Dũng cho biết là có hai chuyến trong một tháng. Chuyến đầu của tháng  hoặc vào các ngày thứ 16,17 và 18 và chuyến thứ hai vào ngày thứ 28 và 29. Những chuyến  tàu  nầy sẽ chỉ đến sau 11 giờ đêm ,vào lúc thủy triều cao nhất  và chỉ ở lại 2 ngày tại nơi nhận để bốc dỡ vũ khí.
Vị trí nơi đến .
Trong liên tiếp ba năm  từ 1963 đến 1965 thì các chuyến tiếp tế đến Năm Căn  đến và neo tại hai địa điễm:
-          Rạch Vang ( Việt Cộng thường gọi là Rạch  Kiến Vàng ) tọa độ WQ 133 574
-          Rạch Năng   Việt Cộng thường gọi là Vàm Lung ) tọa độ  WQ 147 560
Nguồn tin cho biết là vào năm 1963 và 1964 , hai lần tàu tiếp tế bị máy bay và tàu tuần tiễu phát hiện nên không thể dỡ hàng  tại địa điễm ấn định, phải vào ẩn núp tại vùng Rạch Gốc VQ 994510 (1963) và  vùng  rạch Bo Hu  WQ 250670 (1964)
Chi tiết về việc đón nhận các chuyến tiếp tế.
  Trước khi đến  Không ghi nhận được là từ cơ quan nào mà đơn vị tiếp nhận (ĐĐ 868) biết được ngày đến của các chuyến tàu  nhưng  nguồn tin cho biết là trước đó hai ngày, ĐĐ 868 được lệnh cho bố trí tại: Vàm Vang WQ165578 và Vàm  Nang (Vàm Lung) WQ 163573 mỗi  nơi một Trung Đội, đặt trạm gác trên các cây cao để dễ phát hiện những tàu của Hải Quân VNCH và để nhận diện ghe xuồng bạn.
 
Đảo Obi
Cửa Rạch Gôc
Cửa Bồ Đề
          
         Cửa Bồ Đề và cửa Rạch Gốc là hai cửa vào từ biển của tàu tiếp tế. Có hai tàu nhỏ tại địa phương hướng dẫn vào vị trí tiếp nhận.
                                                                                                           
   Ngày đến.    Nhận diện bằng  đèn hiệu,  những dấu  hiệu nhận diện thường xuyên thay đổi theo màu sắc và số chớp tắt của đèn. Sau  khi được nhận diện, tàu vào ủi bãi. Tàu  này đã được hai tàu nhỏ đón ngòai khơi giữa cửa Bồ Đề và Rạch Gốc.
Ghi chú   Hai  tàu nhỏ  được sử dụng vào cuối năm 1963, đó là hai tàu tịch thu từ Quân Đội VNCH trong một trận chiến ở Cà Mau.Từ đó nó được Trung Đội 2 của ĐĐ 868 dùng để đi đón tàu tiếp tế vũ khí .Một chiếc ở Rạch Gốc, một  chiếc ở cửa Bồ Đề để chờ  tàu  tiếp tế.  Khi không được dùng đến, hai tàu nhỏ này đượcdấu trong một rạch  nhỏ cách Vàm Nang 50 thước, nó được che phủ bởi những tàng cây và  lá cây  để  không bị các máy bay phát giác, nhiên liệu cho các tàu nhỏ này được cung cấp bởi các tàu tiếp tế vũ khí.http://dmn.wpengine.netdna-cdn.com/wp-content/uploads/2010/08/K-1116409_with_Caption.jpg
Tàu vận chuyển vũ khí của cộng sản Bắc Việt bị Hải Quân VNCH bằn cháy tại vùng biển Ba Động năm 1966.

Bảo vệ cho tàu chở vũ khí
Một hoặc hai ngày trước khi tàu chở vũ khí đến, ĐĐ 868 đả cho bố trí canh gác tại Rạch Vang và Rạch Nang, cùng lúc đưa quân đến các vùng Rạch Gốc (WQ 010495) và cửa Bồ Đề (WQ 270640). Khi tàu tiếp tế đến và bốc dỡ hàng các tóan  này vẫn tiếp tục hiện diện tại vị trí cho đến khi nó khởi hành  rời địa điễm , chấm dứt công tác tại  khu vực dỡ  hàng.  Trung đội 3 của ĐĐ 868 thiết lập những trạm gác trên các cây cao gần vị trí tàu chở vũ khí để canh phòng  máy bay,  Trung đội này có nhiệm vụ bảo vệ và che dấu cho Thủy thủ đòan và tàu, đem   khí lên bờ .
Bốc dỡ hàng
Đem vũ khí và đạn dược khỏi tàu  là do Tr/đội 3 trách  nhiệm, dân  không được xử dụng làm việc này. Hai cầu  gỗ được thả để nối liền từ tàu vào bờ  làm đường vận  chuyển . Khi bốc dỡ vũ  khí ,có 4 đến 5 thủy thủ và chính trị viên hoặc thuyền phó của tàu hiện diện, kiểm sóat .Số thủy thủ đòan còn lại nghỉ ngơi trong các chòi    láng ở gần đó. Có hai cán bộ phụ nữ lo việc nấu  nướng cho thủy thủ đòan. Thủy thủ đòan của tàu tiếp tế vũ  khí  có từ 20 đến 25 người.
Rời vùng
Sau khi dỡ hàng xong tàu tiếp tế rời vùng ngay.Trong chuyến trở ra biển,tàu không cần tàu nhỏ huớng dẫn.
Nhận và giao vũ khí.
Người chỉ huy ĐĐ 868 ký nhận vũ khí với thuyền trưởng và  chính trị viên tàu. Ông ta còn có trách nhiệm chuyển giao vũ khí cho các nơi nhận sau này. Không có kho vũ khí chính thức mà chỉ có những hầm nhỏ cách bãi  nhận độ 400 đến 500 thước.  Theo lệnh của  người chỉ huy Tiểu đòan, Đại đội trưởng ĐĐ 868 giao trách nhiệm cho Trung đội 3 chuyển vũ khí đến các nơi ấn định để được ký nhận bởi các đơn vị nhận tiếp tế trong vòng 10 ngày. Vũ khí được chuyển giao vào lúc đêm. Trong các đơn vị nhận có các tên và số đươc ghi nhận  như: 306 , 309 , 96 , D 123 nhưng chính  xác đơn vị nào và tầm cở  không biết được.
Loại  tàu chuyển vận    khí.
Trong vòng ba năm từ  1963 đến  1965, Bắc Việt đã xử dụng khoảng 7 đến 8 lọai  tàu  khác  nhau  để  chở vũ  khí. Năm 1964 và  1965, những tàu chuyên chở lớn hơn những tàu  của năm 1963 [2]. Tàu  này khỏang 30 m dài    4 m  ngang, chở độ 60 tấn. Vỏ  tàu  sơn  màu  xám. Lưới đánh được phủ trên phòng lái và cột cờ. Vũ khí trên tàu là 2 đại liên 12.7 ly .
 
Qua những nguồn  tin nầy thì chúng ta  nhận  ra là đường chuyển vận vũ khí vào Nam bằng đường biển lúc đầu, khởi  sự vào  đầu  thập niên 1960 ( những chi tiết và tài liệu có  được sau  nầy cho biết là  bốn  chuyến  tiếp tế đầu tiên cho  Cà Mau chuyển giao 111 tấn vũ  khí cho Liên Khu 9  là vào  hai  tháng 10 và tháng 11 của năm 1962  [3] ).
Đường chuyển vận  vũ khí  bằng đường biển đã được Bắc Việt gọi là đường Hồ Chí Minh trên biển. Việc tiếp tế vũ khí đã bị chậm lại và  gặp  nhiều khó khăn  khi  Hải Quân Hoa Kỳ  tổ chức cuộc  hành quân  Market Time  vào  năm   1965  sau  khi phát giác và đánh chìm  một  tàu  chở vũ  khí của Bắc Việt  tại Vũng Rô  tháng hai  năm 1965.
 http://pcf45.com/trawler/aftermath/skunkalpha1c.jpg
Tàu chở vũ khí của cộng sản Bắc Việt bị bắt tại Sa Kỳ năm 1967.
Phần  II.     Phần  hai  của bài  viết nầy được dựa vào tài  liệu của  Vietnam Center . Texas Tech University ,
                 tác giả tài liệu là C.E. Goscha   phổ biến  tháng 4 năm  2002 ,thời gian hơn 40 năm sau của các  sự việc và 27 năm  sau  ngày chấm dứt cuộc chiến.
Năm 1959,  dưới sự điều động của Xứ Ủy Nam Bộ  đảng  Lao động Việt nam , quân đội Việt Cộng còn ở lại miền Nam sau 1954, cùng với sự tăng cường của những cán bộ tập kết cũng như cán binh Bắc Việt xâm nhập trở lại miền Nam bắt đầu cuộc chiến võ trang tại đây. Binh đoàn Bắc Việt được lần lượt đưa vào Nam.
Đối với Bắc Việt ,khi mở lại cuộc chiến,việc tiếp tế vũ khí từ miền Bắc  vào  miền Nam là một vấn đề quan trọng. Đường tiếp tế qua ngã đường bộ vùng biên giới Lào dọc Trường Sơn và bằng đường biển về phía Nam là huyết mạch.Đường tiếp tế sẽ  đưa thuốc men,trang bị, vũ khí, cũng như cán bộ và binh sỉ vào Nam. Tháng 5 năm 1959 , ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Tham  mưu QĐ Bắc Việt đã ra lệnh cho Thượng Tá VC Võ Bẩm [4] thành  lập một  Đoàn Công Tác Quân Sự Đặc Biệt sau này được gọi là Đoàn  559. Dưới sự lãnh đạo của đãng,  đoàn nầy  đã có quân số là 500 người để thi  hành công tác. Tháng 8 năm 1959, Đoàn 559 chuyển giao lần đầu tiên chuyến vũ khí do Tây phương sãn xuất cho Liên khu 5. Cho đến cuối năm 1959 khoảng 50 tấn vũ khí đã được giao đến nơi nầy.  Để đưa đường chuyển vận về phía Tây của dãy trường Sơn vào tận Hạ Lào , Quân Ủy Trung Ương đã thành lập  Đoàn 959 , đoàn nầy trở thành toán đặc biệt họat động trên đất Lào , nhiệm vụ tiếp tế vũ khí cho phía Nam qua cửa ngõ Lào. Tháng 7 năm 1959 , đãng ra lệnh  điều nghiên một đường tiếp tế trên biển. Tiểu đoàn  603 Bắc Việt bắt đầu  xem xét con sông Gianh ở Quảng Bình   ngụy trang  là những dân đánh cá,những chuyến tiếp tế đầu tiên  cho Liên khu 5 bị thất bại , và  vì việc nầy không dễ dàng thực hiện nên toàn bộ chương trình  được hủy bỏ và chuyển lại cho Cục Hải Quân. Những khó khăn tương tự cho  việc chuyển hàng  bằng đường bộ. Đường chuyển dọc Trường Sơn chậm và tốn kém ,do địa thế và dịch bệnh , những cam kết quốc tế còn đó với hiệp định Geneve,Việt Nam Dân Chủ Công Hòa còn e ngại việc xâm phạm chủ quyền của Lào đua đến những phản ứng quốc tế lúc đó cho nên không dám công khai mỡ rộng ,tăng cường những chuyến tiếp tế mà chi bí mật  thực hiện.
Cho đến năm 1961 Quân Ủy Trung Ương Bắc Việt mới cho xem xét  và mỡ lại con đường tiếp tế vũ khí và xâm nhập. Tướng  Bắc Việt Hoàng Văn Thái đươc giao trách nhiệm tổ chức toán Công Tác B  (Nam Bộ), ông ta xử dụng Đoàn 559 vào tới miền Nam bắng hai bên dãy Trường Sơn. Việc nầy đi liền với kế họach quân sự 5 năm,1961-1965 nhầm thành lập tại miền Nam một lực lượng quân sự gồm 10 đến 15  trung đoàn  mạnh  với đầy đũ  trang bị. Cố gắng tiếp tế nầy cũng chỉ đạt kết quả tương đối vào những năm đầu của thập niên 1960. Từ tháng 11 năm 1960 cho đến tháng  4 năm 1961 , Đoàn 559 chỉ đưa được 30 tấn vũ khí đến gần khu  Phi Quân Sự .  Trọn năm 1961,Đoàn 559 chỉ đạt được  50% chỉ tiêu gồm 317 tấn vũ khí.  Từ tháng 11 năm 1962 đến tháng 4 năm 1963 chỉ đưa được 36 tấn vũ khí và 47 tấn gạo đến một giao điểm phía Nam , đưa ra Bắc 100 cán bộ , đó không phải là một số lượng lớn và lại không vào được quá vùng  Phi Quân sự phía Nam.
Những khó khăn trên đường bộ Trường Sơn đã buộc Bắc Việt quay ra phía biển. Vào thời gian đầu của thập niên 60, sự họat động của Hải Quân Hoa Kỳ còn giới hạn do âm hưởng nguy cơ chiến tranh vùng eo biển Đài Loan (1954 và 1958), trong khi đó những cuộc  khũng hoảng ở Bá Linh  và Cuba đã khiến Hoa kỳ bỏ đi những kế họach dùng Hải Quân ở  vùng  Nam Thái Bình Dương, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa còn trong tình  trạng  phôi thai và gặp nhiều khó khăn ở vào thời gian mới phát triển cho nên việc xâm nhập một số lớn vũ khí hiện đại cho quân đội Việt Cộng tại  miền  Nam là dễ dàng và có thể  làm được kết quả mà không sợ bị phát giác.[5]  .
Trở lại thời gian khi gặp khó khăn trên đường bộ ở dãy Trường Sơn vào  năm 1959  thì   tháng 7 năm 1959, Bắc Việt cho lệnh nghiên cứu một đường tiếp tế trên biển. Tiểu đoàn  603 bắt  đầu  xem xét con sông Gianh ở Quảng Bình và Tiểu đoàn nầy đã cho binh sỉ giả dạng thành  những  nhóm dân đánh cá, gọi tên Tập đoàn đánh cá Sông Gianh và cho đến cuối năm thì Tiểu đoàn nầy đã thành lập được 12 tàu  trọng tải từ  5 đến 7 tấn để sử dụng trên biển.  Tuy nhiên sự việc này đã không đưa đến kết quả nào nên đến tháng 4 năm 1960 thì tòan bộ chương trình nầy bị giải tán. Kế họach tiếp tế trên biển được giao về cho phía Hải Quân, lúc đó còn gọi là Cục Hải Quân.
Cho dù  những cố gắng sớm  nhất  để gởi tiếp tế bằng đường biển bắt đầu  từ tháng 7 năm 1959,  nhưng mãi đến khi  Đoàn 759 được Bộ Quốc Phòng Bắc Việt  thành  lập vào ngày 23 tháng 10  năm 1961 thì việc tiếp tế cho miền Nam những vũ khí hiện đại của Liên Sô và Trung Quốc bằng đường  biển mới được bắt  đầu  .Việc thành lập Đoàn 759 là do những nhu cầu cấp bách tại chiến trường miền Nam , trước đó vài tháng, một số ghe thuyền của Cộng Sản nằm vùng  tại  miền Nam vượt biển  ra Bắc cùng với một số cán bộ để yêu cầu chi viện vũ khí . Đoàn 759 họat động một cách tuyệt đối bảo mật,nhận chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân Ủy Trung ương qua Võ Nguyên Giáp, tổ chức một đường tiếp tế trên biển từ Hải Phòng vào Nam do Trần Văn Trà lúc đó là Tham mưu phó của bộ Tổng Tham  mưu QĐBV chỉ  huy.  Đoàn  nầy đã  tái trang bị và đóng mới một số ghe ,tàu biển vỏ bằng  gổ và bằng  sắt . Các chuyến  tàu  lần lượt rời Đồ Sơn (được gọi dưới bí số K-20) xuôi Nam qua ngỏ Hòang Sa,rồi dọc theo duyên  hải phía Nam, chuyển hàng đến các ghe nhỏ đợi sẵn gần bờ hoặc vào các cửa biển, cửa  sông cho các đơn vị tiếp nhận  và sau đó đến tay các đơn vị chiến đấu đang  nằm tại miền Nam. Đa số các thuyền trưởng của các ghe tàu nầy là từ miền Nam, một số  ra Bắc vào năm 1961  trong chuyến đi Bắc yêu cầu được tiếp tế vài tháng  trước khi  đòan 759 được thành  lập,số còn lại là những cán bộ tập kết năm 1954.Thủy thủ đoàn  được cung cấp bởi các đơn vị Hải quân Bắc Việt.
Kết quả đáng  ngạc nhiên của sự thành công  khởi đầu  những chuyến tiếp tế đã đến với lãnh đạo chính trị và quân sự Bắc Việt. Thời gian từ tháng 10 đến tháng 11 của  năm 1962, chỉ trong vòng 2 tháng, đoàn 759 đã đưa thành công vào Mau( Khu 9) một số lượng vũ khí là 111 tấn qua 4 chuyến tiếp tế. Từ tháng 10 năm 1962 đến cuối năm 1963, tổng cộng 23 chuyến tiếp tế  với số lượng 1318 tấn vũ  khí  hiện đại và đạn dược được giao đến miền Nam, chủ yếu là ở các tỉnh Cà Mau, Bến Tre,Bà Rịa và Trà Vinh. .                                                                                
Trong  năm 1964, 49 tàu tiếp tế đã mang 2,971 tấn vũ khí và 113 cán bộ vào Nam.  Năm 1965 , trong hai tháng đầu đã giao 408 tấn vũ  khí. Những chuyến tiếp tế nầy, mất khoảng 8 ngày cho nơi nhận  ở vùng Cà Mau.                              
 Trong  bài viết nầy, tác giả Christpher E. Goscha cũng cho biết là trong chuyến tiếp tế đầu tiên năm 1962 đi Cà Mau, lúc tàu  tiếp tế tên Phương Đông I  khởi hành có Phạm Hùng, Nguyển Chí Thanh và Trần Văn Trà đến tận nơi để động viên và khích lệ. Thuyền trưởng tàu này là Bồng Văn  Dĩa, một  cán bộ có nhiều kinh nghiệm thời chiến tranh với Pháp. Vài  ngày sau đó tàu Phương Đông II khởi hành vào Nam ,đi Cà Mau…[6]
Nên biết là vào tháng 1 năm 1964  để đánh dấu  bước quan trọng cho việc tiếp tế vũ khí trên biển, đoàn 759 được đổi  danh  hiệu  thành  Lử đoàn 125, và trở thành một đơn vị chính thức của  Hải Quân Bắc Việt.  Tại Liên Khu 5 thì những nơi an tòan cho việc tiếp tế  là Vũng Rô (Phú Yên), Lộ Giáo và Sa Huỳnh. Tháng 10 năm 1964,tàu gổ số 401 vào tiếp tế vũ khí ở Lộ Giáo. Tháng 11 năm 1964, tàu vỏ sắt số 41 thành công chuyến đi Vũng Rô giao 44 tấn vũ khí  sau đó tại Vũng Rô cũng thành công  đón nhận 2 chuyến tiếp tế vũ khí  nửa. Nhờ số vũ khí được tiếp nhận qua những lần tiếp tế nầy mà Liên Khu 5 đã có khả năng tăng cường các họat động tấn công quân sự tại đây trong thời gian  mùa Đông 1964 và mùa Xuân  năm 1965. Theo Goscha thì ước lượng từ  4 đến 5000 tấn  ũ khí được đưa vào Nam  kể cả Liên Khu 5 trong thời gian từ năm 1962 đến tháng 2 năm 1965.
http://vnafmamn.com/NAVYphoto/vungro11.jpg
Biến cố Vũng Rô.  Ngày 16 tháng 2 năm 1965, tàu vỏ sắt số 143 chiều dài  khoảng 40 m  của Lử đòan 125 vào Vũng Rô, sau khi bốc dở vũ khí cùng hàng hóa,đạn dược thì bị máy bay trinh sát Hoa kỳ phát hiện. Vùng 2 Duyên hải  sau khi đượcthông báo đã yêu cầu không quân  vùng 2 đến nơi, máy bay đánh chìm  tàu tiếp tế này tại bờ biển. Lực lượng Cộng sản  trên bờ đã chống trả  khi lực lượng Hải Quân đến  nơi, giao tranh dữ dội  giữa hai bên và  sau  đó  đến ngày 24 tháng 2 , lực lượng Hải quân gồm  các chiến hạm  HQ 405, HQ 08 , HQ 04, duyên đoàn 24, người nhái , lực lương đặc biệt cùng  bộ binh Sư đoàn 23  tìm thấy được một số vũ khí đã được Cộng quân đưa lên bờ cất dấu gồm: gần 4000 súng trường và súng liên thanh  và hơn triệu viên đạn, 1500 lựu đạn, 2000 đạn súng cối, mìn và chất nổ. 
Sau biến cố Vũng Rô ngày 16 tháng 12 năm 1965,bằng chứng của sự xâm nhập vũ khí bằng đường biển là hiển nhiên với qui mô và với số lượng lớn .Một cán bộ của Lử đoàn 125 đã khai báo với tình báo Hoa kỳ sau này là mỗi chuyến tiếp tế như vậy thường xuyên chuyển 90 tấn vũ  khí đạn dược gồm súng và đạn AK 47,  B 40 , B41, mìn và chất nổ… Hải Quân Hoa kỳ và  Hải Quân VNCH sau đó đã phối hợp tổ chức cuộc Hành quân Market Time[7]  vào tháng 3 năm 1965 để chận đứng việc tiếp tế trên biển của Bắc Việt vào Nam. Cuộc hành quân nầy sử dụng các chiến hạm lớn tuần tiễu bên ngoài, các chiến hạm nhỏ và các chiến đỉnh tuần tiểu gần bờ, hệ thống radar duyên  hải, các máy bay  không  tuần loại PC-Orions, Neptunes…Bờ biển phía Đông của Việt Nam  đã thay đổi tình trạng. Trước đó người Pháp đã không thể nào ngăn chận sự xâm nhập của Cộng sản với 50 chiến hạm và chiến đỉnh  thì nay Hoa Kỳ và miền Nam đã dùng trên 150 tàu  để làm việc nầy. Số lượng giờ bay của máy bay không tuần của Hoa Kỳ trung bình    1500 giờ cho một tháng ,trong lúc người  Pháp chỉ đạt không quá 500 giờ. Bắc Việt nhận ra là sự việc đả thay đổi.  Hành quân Market Time đang tiến triển và  tăng cường , theo Goschard , lử đoàn 125 đã đạt được một thành công  trong việc xuyên qua  mạng lưới ngăn chận cho lần  xâm nhập của tàu số 42 chuyển 60 tấn vũ khí vào đến Cà Mau  ngày 24 tháng 10 năm 1965 và tiếp theo đó , 2 tàu số 68 và 69 cũng thành công với cùng một số lương vũ khí tương tự.[8]http://vnafmamn.com/NAVYphoto/vungro_VCship2.jpg
Cường độ tiếp tế giảm sút rõ rệt,trong khi ghi nhận trước đó khi chưa có cuộc hành quân Market Time  thì Bắc Việt đã thực hiện hàng tháng ít nhất là hai chuyến tiếp tế vũ khí.  Đòan 125 cho tổ chức các khóa huấn luyện hàng hải thiên văn  để các tàu tiếp tế lần này sẻ đi xa bờ, chọn các trục hàng hải quốc tế từ Hải Namphía ngòai Hòang Sa, Côn Sơn , Phú Quốc… hải hành  trên các hải đạo quốc tế để sau đó đâm thẳng vào bờ.  Nhưng khi chuyển hướng vào bờ thi gặp rất nhiều khó khăn phải vượt qua, các tàu tuần của hải quân VNCH và của Hoa kỳ,các đài  radar duyên hải…lợi dụng  những lúc thời tiết xấu, những khe hở trong việc tuần tiểu ngăn chận của Hải quân  là đích nhắm của các thuyền trưởng tàu xâm nhập vốn có nhiều kinh nghiệm qua hàng chục chuyến  tiếp tế thành công trước đó.  
Tháng 10 năm 1965, tàu 69 là chiếc tàu đã hải hành xa tít ngoài khơi của biển ĐôngViệt Nam để tránh các chiến hạm Hoa Kỳ ,nó đã dùng hải đạo quốc tế để di chuyển về phía Nam. Hải Quân Hoa Kỳ tuy nhiên đã phát giác ra tàu  nầy với ý định xâm nhập,nên theo dõi  liên tục . Thấy không thể nào vào được bờ,nó đổi hướng đi Phi Luật Tân, rồi Hong kong , tàu nầy trốn ở một hòn đảo của Trung Quồc sau đó phải trở về Bắc Việt. Thuyền trưởng tàu đã báo cáo cho cấp chỉ huy là Hải Quân Hoa Kỳ không những tuần tiểu gần bờ mà còn rất hiệu quả ngoài khơi Biển Đông. Tháng 4 năm 1966, tàu 69 một lần nửa đi xa phía ngoài khơi đại dương và cuối cùng thành công vào đến được Cà Mau. Nhưng lần nửa lại bị phát giàc trên đường trở ra khơi, các tàu của Hải Quân Hoa Kỳ chận  bắt và nổ súng, tàu quay lại đâm vào bờ sau khi bị cháy và thiệt hại nặng. [9]

(còn tiếp).
  1. http://www.history.navy.mil/docs/vietnam/pics/high66-6m.jpg
Phóng đồ vị trí các đơn vị Duyên Đoàn dọc theo 4 vùng Duyên Hải Nam Việt Nam.
http://www.history.navy.mil/docs/vietnam/pics/high66-6j.jpg
Phóng đồ hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ hành quân Market Time.
http://www.ibiblio.org/hyperwar/NHC/market_time-15.jpg
Phóng đồ hoạt động của các đài kiểm báo dọc theo Duyên Hải Nam Việt Nam.

[1] NVN gunrunner supplying the VC Force in SVN at Nam Can(An Xuyen),from 1963 to November 1965.
Page  1-7. Appendix IV,Special Annex.
[2] Theo Lịch sử HQNDVN(1955-2005) “Trả lời # 89 vào lúc 05 tháng giêng,2008,01:27:38pm.” Trong năm 1965,đoàn 125 được trang bị thêm 10 tàu mới,trong đó có 8 tàu sắt đóng ở nước ngoài…   Trả lời # 91 vào lúc:05 tháng Giêng,2008,01:30:22 pm”  Đoàn 125 đã cải dạng 4 tàu, 42,68,69,100 từ dạng tàu vận tải Quảng Châu sang dạng tàu đánh cá…Bộ Ngoại Thương còn cấp cho đoàn 125 nhiều quần áo theo kiểu thủy thủ nước ngoài,và mọi thứ sinh họat khác cũng đều “ngọai.”. Như vậy là Bắc Việt đã dùng những tàu Quảng Châu do Trung Quốc ch i viện vào năm 1965 giả dạng tàu đánh cá để chở vũ khí xâm nhập vào Nam.
[3] Christopher E. Goscha , The Maritime Nature Of The Wars For Vietnam (1945-1975).  4th Triennial Vietnam Symposium. Texas Tech University . Vietnam Center .  11-13 April  2002.  Lubbock,Texas.  ( Trang 15 )
[4] Thượng Tá Võ Bẩm,quê miền Trung,đảng viên CS từ thập niên 30,có mặt trong đội du kích Ba Tơ,sau đó làm Chính Ủy Trung Đòan 803,đã giữ nhiều chức vụ quan trọng về Hậu cần trong chiến tranh Việt Pháp. Võ Bẩm sau 1975, lúc là Thiếu Tướng đã viết quyển “Mở đường Trường Sơn- Đường mang tên Bác”,một tác phẩm cho một cái nhìn tổng quát và có rất nhiều chi tiết. (Chú thích: Theo tác giả Nguyễn Kỳ Phong trong bài” Binh đòan, binh trạm và đường đi B :Đọc một vài quyển sách về đường Hồ Chí Minh” đăng trong Talawas tháng 1 năm 2008.)
[5] Cho đến năm 1961 thì HQVNCH mới có 21 chiến hạm kể cả những tàu chuyển vận.  Hộ Tống Hạm mới nhất là chiếc PCE-HQ 07 được chuyển giao năm 1961.  Ba Trục Lôi Hạm  HQ114, HQ115 và HQ116 thì cũng về đến VN sau khi nhận lãnh trong năm nầy.  Lực lượng Hải Thuyền được thành lập vào cuối năm 1960,cho đến năm 1961 thì có 80 ghe,cho 4 Duyên Đòan tại Cửa Việt,Cửa Thuận An,ĐàNẳng và Hội An. Quân số Hãi Quân  vào năm 1961 là 6000 gồm SQ,HSQ và Đòan Viên. Về phần Hải lực thì tuần tiễu hỗn hợp Hải Quân Hoa Kỳ và Việt Nam bắt đầu từ ngày 22 tháng 12 năm 1961.Các chiến hạm HQVN tuần tiễu 10 ngày trên biển và nghỉ bến 5 ngày tại Đà Nẳng.Các Hộ Tống Hạm lọai nhỏ của HQVN như các PC  vào mùa gió Đông Bắc,biển động mạnh ,thời tiết xấu, họat động thật khó khăn chưa kể đến tình trạng kỹ thuật nhiều khi không được tốt.
 
[6] Theo tài liệu của HQBV thì  tàu tiếp tế đầu tiên khởi hành đêm  11 tháng 10 năm 1962 tại Đồ Sơn có mặt Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh và Trần Văn Trà.Thuyền trưởng tên là Lê Văn Một.Chính trị viên là Bông Văn Dĩa (Lịch sử HQNDVN- Trả lời # 35  ,11 tháng 12 năm 2007,12;22:26 pm )  Khi tàu thứ nhất đến Vàm Lũng,thì đêm 16 tháng 10,chuyến tàu sô 2,thuyền trưởng tên Đạt và chính trị viên tên Lê Công Cẩn (năm Công) khởi hành, tàu này vào Cà Mau.
[7] Hành Quân Market Time bắt đầu từ tháng 4 năm 1965. Ngay sau khi có cuộc hành quân này các chuỵến tiếp tế vũ khí của Bắc Việt giảm cường độ  như đã ghi nhận trong phần I  của bài viết. Cuộc hành quân Market Time được ghi lại một cách chi tiết  ở một bài viết khác.
[8] Theo Lịch sử HQNDVN(1955-2005) Trả lời#92 ngày 8 tháng giêng 2008,12:52:pm. Tàu 42  thuyền trưởng Nguyễn VănCứng, chính trị viên Trần Ngọc  Ấn chỉ huy vào được đến rạch Kiến Vàng (Cà Mau) ngày 23 tháng 1 năm 1965. Tàu số 69  thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Ẩn,chính trị viên Tăng Văn Huyền chở 60 tấn vũ khí khởi hành ngày 10 tháng 11 năm 1965  thành công vào đến Vàm Lũng (Cà Mau). Tàu số 68 thuyền trưởng Đỗ Văn Bé,chính trị viên Phạm Văn Bát  khởi hành ngày 17 tháng 12 năm 1965 cũng thành công vào Cà Mau. Tàu số 100 thuyền trưởng Lê Minh Sơn ,chính trị viên Nguyễn Hủu Tường khởi hành ngày 24 tháng 12, năm 1965  nhưng thất bại và phải quay về Bắc.Bốn tàu số 42,68,69 và 100 là các tàu vận tải Quảng Châu được cải biến thành tàu đánh cá ,mỗi tàu có lắp thêm một radar và một hầm dầu phụ..
[9] Theo Lịch sử HQNDVN (1955-2005) Trả lời #95 vào lúc 8 tháng Giêng,2008,12:56:11 pm.Tàu 69 khởi hành ngày 15 tháng 4 năm 1966,sau 9 ngày trên biển đã vào đến vàm Cái Bầu an tòan, tàu sửa chửa tại Rạch Gốc,sau 9 tháng sửa chửa và ẩn nấp chờ cơ hội thuận tiện quay về Bắc.Khi tàu ra đến biển thì bị phát giác và bị bắn,tàu 69 bèn quay vào bờ sau khi bị bắn cháy và có một số thủy thủ chết.Đơn vị Công Sản trên bờ là đoàn 962 nổ súng  tiếp cứu, tàu 69 vào được cửa vàm,tàu nầy hư hỏng nặng phải nằm lại tại rạch Xẹo Xôi,trong rừng đước xã Rạch Gốc.
 
Nam Yết chuyển

No comments: