Total Pageviews

Once sailor, forever sailor

Tuesday, February 20, 2018

Kế Hoạch Đánh Chiếm Biển Đông của Trung Quốc - James Holmes (The National Interest)


Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc “chiến tranh nhân dân” trên biển. Mục đích của một chiến dịch như vậy là gì? Để “bảo vệ chủ quyền” sau phán quyết của Tòa Trọng tài.
Toà trọng tài, trên tinh thần giữ vững ý nghĩa trực tiếp của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), đã ra phán quyết rằng tuyên bố của Bắc Kinh về “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với 80-90% Biển Đông là không có cơ sở.
Một cường quốc không thể đơn giản lấy đi biển cả hay vùng biển của các nước láng giềng yếu hơn và biến thành của mình. Hay, dù điều gì xảy ra thì Trung Quốc cũng không thể thực hiện điều đó một cách hợp pháp. Nhưng có thể hình dung được, họ sẽ có thể làm được vậy thông qua xâm chiếm, và sau đó củng cố với hiện diện quân sự liên tục. Do đó, các nhà bảo vệ tự do hàng hải phải chống lại lời kêu gọi đó của Thường Vạn Toàn. Các nước Đông Nam Á và các liên minh bên ngoài khu vực của các nước này cần phải xem xét kỹ những tuyên bố của Trung Quốc, phải dành nhiều thời gian tính trước viễn cảnh có chiến tranh trên Biển Đông.
Đó là điểm đầu tiên về “chiến tranh nhân dân” trên biển. Va chạm quân sự là hoàn toàn có thể. Các nhà lãnh đạo ở Manila, Hà Nội và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.
Thật sự thì khó có thể tin được Trung Quốc sẽ tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng tài ngay cả khi giới lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn làm như vậy, vì điều này có thể gây ra phản ứng bất lợi trong nước. Trong hai thập kỷ qua, Bắc Kinh đã đầu tư rất lớn cho hải quân, tăng cường trang bị cho lực lượng này pháo, máy bay chiến đấu, bệ phóng tên lửa chống tàu, tàu chiến có phạm vi hoạt động ngắn như tàu ngầm chạy diesel và tàu tuần tra cao tốc. Họ đã lấy lòng quần chúng bằng việc phô diễn họ sẽ sử dụng những lực lượng trên biển như thế nào để sửa chữa những sai lầm trong quá khứ và giành lại danh tiếng cho đất nước. Giờ thì họ phải theo đến cùng.
Thật là ngớ ngẩn khi gắn danh dự và chủ quyền quốc gia vào các tuyên bố chủ quyền đối với các hòn đảo và vùng biển. Nhưng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã làm vậy. Và họ làm vậy một cách liên tục, công khai, với những từ ngữ kiên định nhất mà tôi có thể tưởng tượng. Bằng diễn ngôn, họ dần dần tạo tình cảm dân tộc chủ nghĩa, và cũng đồng thời ràng buộc mình chịu trách nhiệm với chủ nghĩa dân tộc đó. Họ làm dấy lên những kỳ vọng sai trái độc hại trong suy nghĩ của người dân.
Phá vỡ những kỳ vọng này gần như là không thể. Nếu bây giờ Bắc Kinh giảm bớt những đòi hỏi chủ quyền thì người dân sẽ phán xét giới lãnh đạo bằng chính những tiêu chuẩn họ đặt ra. Lãnh đạo đảng sẽ phải chịu chỉ trích là những người yếu đuối, từ bỏ lãnh thổ thiêng liêng và không thể phục hận cho một thế kỷ nhục nhã mặc dù Trung Quốc đang trỗi dậy trở thành một cường quốc, và để cho các quan toà và các nước láng giềng nhỏ hơn, với sự hậu thuẫn của một cường quốc nhất định, chế nhạo ý chí của Trung Quốc một cách ồn ào.
Không vị lãnh đạo Trung Quốc nào muốn để bị coi là một người yếu đuối, điều đó vô cùng nguy hiểm ở Trung Quốc. Như những nhà ngoại giao vĩ đại đã dạy, sẽ rất khó khăn cho các nhà đàm phán và lãnh đạo chính trị xuống nước sau những cam kết công khai. Khi đưa ra một lời hứa là bạn đã tự ràng buộc mình phải giữ lời. Nếu thất hứa là đã tự hạ thấp bản thân – và chuốc lấy thảm hoạ trong thương lượng.
Như bất kỳ nhà lãnh đạo có đầu óc bình thường nào, lãnh đạo Bắc Kinh cũng muốn đạt được mục đích mà không cần chiến đấu. Nhưng chiến đấu lại có thể là lựa chọn ít tồi tệ nhất trong những lựa chọn mà những nhà lãnh đạo đảng còn lại cho họ. Thật là một hoàn cảnh khó khăn mà họ đã tự tạo ra cho họ.
Điều này dẫn tới điểm thứ hai: Từ những lời lẽ của tướng Thường Vạn Toàn, có thể thấy chính sách ngoại giao cây gậy nhỏ đang chạy. Chính sách ngoại giao cây gậy nhỏ là triển khai lực lượng hải giám cùng những dịch vụ hàng hải phi quân sự khác tới khống chế các vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Chiến lược này coi chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông như là một thực tế và thách thức cả những đối thủ vượt trội hơn đảo ngược thực tế đó.
Nếu không bị phản đối, “chủ quyền thực tế” của Trung Quốc – nước gần như độc quyền sử dụng vũ lực trong đường biên giới họ phác thảo trên bản đồ – sẽ ngày càng được củng cố khó thay đổi theo thời gian.
Khi điều này trở thành “một tình trạng bình thường mới”, nó thậm chí có thể bắt đầu khoác trên mình vòng hào quang của tính hợp pháp.
Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS đã giáng một cú đấm nặng nề vào chính sách của Trung Quốc, làm sụp đổ những luận điệu giả pháp lý đằng sau chính sách “cây gậy nhỏ” của Trung Quốc. Phán quyết này chỉ rõ rằng các lực lượng biển của Trung Quốc hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của Philippines chính là những kẻ xâm lược hoặc những kẻ chiếm đóng chứ không phải là những chú cảnh sát đang bảo vệ vùng biển.
Nhưng nếu Bắc Kinh không thể đạt được mục đích thông qua các tàu hải giám vỏ trắng thì họ sẽ dùng sức mạnh quân sự. Tướng Thường Vạn Toàn nói các quốc gia có chủ quyền triển khai các phương tiện hành pháp để bảo vệ những gì thuộc chủ quyền đúng đắn của họ. Các quốc gia có chủ quyền triển khai lực lượng quân sự để chiến đấu giành lấy những gì đang trong tranh chấp. Lời nói có tính gây chiến của tướng Toàn ngụ ý rằng Bắc Kinh đã từ bỏ phương pháp mềm, mỏng và gián tiếp thừa nhận Đông Nam Á là khu vực có xung đột.
Và biệt ngữ mà tướng Toàn sử dụng cũng có một ý nghĩa quan trọng. “Chiến tranh nhân dân” là cụm từ thuộc chủ nghĩa Mao, được sử dụng để truyền đạt những ý tưởng quân sự. Đội Hồng quân của Mao Trạch Đông (Mao Zedong) đã tiến hành chiến tranh nhân dân để chiếm giữ những vùng đất tranh chấp từ tay quân xâm lược Nhật Bản hay từ Trung Hoa Dân quốc. Có vẻ Trung Quốc giờ đã nhìn Biển Đông với những thuật ngữ tương tự – như một chiến trường ngoài khơi nơi kẻ thù phải bị đánh bại bằng vũ lực.
Nhưng không chỉ có quân đội. Bắc Kinh sẽ không rút lực lượng hải giám, lực lượng thực thi pháp luật trên biển hay các tàu đánh cá – một lực lượng dân quân không chính thức – ra khỏi các vùng biển tranh chấp. Đội ngũ này sẽ đóng vai trò như một bộ phận trong toàn hạm đội của chính phủ. Nhưng hải quân và không quân thuộc quân đội Trung Quốc vẫn đóng vai trò nòng cốt.
Trong những ngày của ngoại giao cây gậy nhỏ thì “cây gậy to” là sức mạnh hải quân vẫn luôn là mối đe dọa ngấm ngầm từ phía chân trời. Các thủy thủ Philippines và Việt Nam biết rất rõ rằng lực lượng Hải giám Trung Quốc đã có hậu thuẫn nếu bị thách thức. Rất có thể các vị tư lệnh Trung Quốc sẽ không ngần ngại phô trương “cây gậy to” một cách ít thận trọng hơn trong tương lai – đe doạ công khai và rõ ràng hơn là chỉ giữ nó ở mức độ tiềm ẩn và kín đáo như hiện nay.
Điểm thứ ba: Chiến lược “chiến tranh nhân dân” trên biển sẽ đối đầu với một liên minh pha tạp mà trong đó các nước bên ngoài như Mỹ, có thể cả Nhật Bản và Úc sẽ cung cấp phần lớn sức mạnh chiến đấu hạng nặng. Philippines sẽ bị đánh bại. Việt Nam có sự can trường và một quân đội mạnh mẽ, nhưng sẽ gặp vô vàn khó khăn khi chống lại gã khổng lồ phương Bắc nếu không có sự hỗ trợ.
Sự tạo thành một liên minh kỳ dị đó sẽ chỉ cung cấp cho Bắc Kinh những cơ hội phá vỡ liên minh. Trung Quốc có thể cho rằng bất kỳ xung đột nào ở Biển Đông sẽ trở thành một cuộc chiến tranh giới hạn đối với người Mỹ, một cuộc chiến tranh mà trong đó Washington ấn định kích cỡ của đội quân họ cử đi để hỗ trợ các đồng minh khu vực và hướng dẫn những vị tư lệnh chỉ huy đội quân đó làm tốt nhất có thể trong phạm vi nguồn lực họ có.
Những chiến lược như vậy là tuyệt vời cho các hoạt động can thiệp gây rắc rối nhưng hiếm khi mang tính quyết định. Ví dụ vào năm 1807, tướng Wellington đã dẫn đầu một đạo quân đổ bộ vào Iberia. Đạo quân viễn chinh này đã gây cho Napoleon “một vết loét”, buộc Napoleon phải bước vào một mặt trận mới dai dẳng ở Tây Ban Nha. Tuy nhiên, tướng Wellington chưa bao giờ tự lừa dối mình rằng ông sẽ thắng một cuộc chiến tranh liên lục địa chỉ với một đội quân viễn chinh khiêm tốn được tăng cường bởi lực lượng du kích và Hải quân Hoàng gia Anh
Chiến tranh nhân dân là có thể trụ vững được lâu hơn những đối thủ mạnh hơn trong những bối cảnh như vậy. Nếu Trung Quốc là bên yếu hơn nhưng có nguồn sức mạnh cứng đáng kể thì đối thủ của họ sẽ phải mất thời gian. Lực lượng vũ trang Trung Quốc sẽ có cơ hội vừa câu giờ vừa tập hợp nhiều sức mạnh hơn, đồng thời bào mòn sức chiến đấu của kẻ thù.
Tóm lại, Trung Quốc có thể sẽ chiến thắng ngay cả khi họ yếu hơn Mỹ một cách toàn diện. Quân đội Trung Quốc có thể thu hẹp hoặc đảo ngược cán cân sức mạnh tại chiến trường, chế ngự đội quân của Mỹ ở địa điểm và thời điểm thật sự quan trọng. Họ có thể khiến cho Washington nản lòng. Các nhà lãnh đạo Mỹ có thể tuyệt vọng trong việc duy trì trọng trách mà không biết tới khi nào mới kết thúc. Hoặc, Trung Quốc có thể trụ lâu hơn Mỹ – gây ra cho Mỹ nhiều tổn thất có tính chiến thuật trong thời gian dài, khiến cái giá phải trả cho việc duy trì tự do trên biển cao hơn mức mà lãnh đạo Mỹ sẵn sàng chi trả. Nếu Mỹ rút quân về nhà, chiến dịch sẽ bị sụp đổ.
Bằng cách nào mà các nhà tư lệnh Trung Quốc có thể làm được điều đó? Đó là tuân thủ triệt để những truyền thống gây chiến từ lâu đời. Không thể nào dự đoán được trước những chiến thuật và cách thức hoạt động của họ ở Biển Đông, mặc dù có thể tiên liệu được họ về mặt chính trị và chiến lược. Có thể tiêu liệu được chính trị và chiến lược của Trung Quốc bởi các nhà lãnh đạo đảng đã tự dồn họ vào cùng một chân tường với các cử tri của họ. Không thể dự đoán được họ về mặt chiến thuật vì đó là cách mà lực lượng vũ trang Trung Quốc đã chiến đấu từ thời Mao Trạch Đông tới nay.
Thật vậy, “phòng thủ tích cực”, khái niệm Mao đã dùng để hệ thống hóa các ý tưởng của ông về “chiến tranh nhân dân”, tới nay vẫn là trọng tâm của chiến lược quân sự của Trung Quốc. Chỉ cần hỏi Bắc Kinh là biết. Nói một cách quá đơn giản thì ý đồ đằng sau “phòng thủ tích cực” là nước Trung Quốc yếu hơn có thể nhử mồi một nước mạnh hơn đến chỗ triển khai quân đội quá mức và tự làm mệt mỏi mình trước khi Trung Quốc ra đòn phản pháo. Hãy hình dung lại trận boxing có tính lịch sử của Muhammad Ali (The Rumble in the Jungle) và bạn sẽ có ý tưởng về khái niệm này.


Nếu cách tiếp cận rope-a-dope đó được tiến hành ở phạm vi rộng lớn, lực lượng vũ trang Trung Quốc có thể gây ra những thất bại chiến thuật làm suy yếu kẻ thù theo thời gian. Như vậy, “phòng thủ tích cực” là việc khai thác tấn công chiến thuật cho các chiến dịch phòng thủ chiến lược.


Để theo đuổi cách tiếp cận này, các tư lệnh Trung Quốc sẽ tìm các đội quân kẻ thù đang bị cô lập mà họ có thể tấn công ở “đường biên ngoài”, bao vây và tiêu diệt họ. Tác động dồn lại của việc bị thua trận chiến thuật lặp đi lặp lại sẽ bào mòn kẻ mạnh và khiến lãnh đạo của kẻ thù trở nên nghi ngờ về việc liệu cuộc chiến có xứng đáng với sự vất vả, nguy hiểm và chi phí mà họ phải trả hay không. Nếu không, tư duy logic về chi phí/lợi ích sẽ khích động các nhà lãnh đạo Mỹ nghĩ đến đường rút lui – và Trung Quốc sẽ thắng thế mà không cần đến một chiến thắng đối với toàn bộ lực lượng liên quân.
Bởi vậy, những thủy thủ và phi công của Mỹ và các nước đồng minh cần phải nghiên cứu các phương pháp quân sự truyền thống của Trung Quốc, tích lũy kiến thức sâu về cách thức phòng thủ tích cực ngoài khơi có thể diễn ra ở Biển Đông. Hãy đặt mình vào vị trí Trung Quốc, sau khi đã xây dựng một đội quân du kích trên biển, một lực lượng hải giám ấn tượng, một lực lượng hải quân lớn nhất châu Á và một kho vũ khí quy mô lớn trên đất liền có đủ khả năng gây ảnh hưởng ở biển, thì anh sẽ kết hợp tất cả những yếu tố này như thế nào để trở thành một công cụ chiến đấu sắc bén – và củng cố kiểm soát vùng biển nửa kín này?
Những nỗ lực nhìn xa trông rộng này có thể sẽ được đền đáp xứng đáng nếu Trung Quốc định đặt các khái niệm chiến lược của Tướng Thường và Mao vào thực tiễn.
Khi nói về Thường hay Mao, thì đây là một mẩu lời khuyên cuối cùng từ Mao. Tướng Toàn sử dụng phương pháp quân sự truyền thống của Trung Quốc, đặt trọng tâm vào “chiến tranh nhân dân”, để nói về cách thức Bắc Kinh có thể triển khai hoạt động ở Đông Nam Á. Nhưng hãy nhớ rằng chiến lược của kẻ yếu dù có lợi đối với Mao, đó không phải là ưu tiên chiến lược của ông. Mao đã viết về chiến lược này là dành cho một nước Trung Quốc thất bại, bị tàn phá bởi nội chiến và sự xâm lược từ bên ngoài.
Nó khó có thể làm gì khác. Mục tiêu của “phòng thủ tích cực” – của “chiến tranh nhân dân” – là khiến Hồng quân trở thành một đối thủ mạnh mẽ hơn. Một khi lực lượng của Mao đảo ngược được cán cân sức mạnh, họ sẽ tổng phản công và chiến thắng trên chiến trường quy ước.
Trung Quốc hiện tại không phải là Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông. Trung Quốc hiện tại đã trở thành một cường quốc mạnh về kinh tế và quân sự, và có thể chiến đấu độc lập. Quân đội Trung Quốc hiện nay có nhiều lựa chọn tấn công hơn rất nhiều so với Hồng quân của Mao. Không chỉ theo đuổi học thuyết “chiến tranh nhân dân” đơn thuần theo mô hình chủ nghĩa Mao mà quân đội Trung Quốc còn theo đuổi một sự phối hợp giữa các đơn vị tham chiến lớn và nhỏ để chống lại liên minh do Mỹ đứng đầu.
Bởi vậy mà “chiến tranh nhân dân” có thể bắt đầu với một sự tàn khốc không kém gì một trận hải chiến theo quy ước nếu Bắc Kinh tin rằng cán cân quân sự và xu hướng là có lợi cho họ.
Hãy cùng xem xét lại cách mà Trung Quốc tham chiến, phải nhận thức được sâu sắc về thói quen và tư duy chiến tranh của Trung Quốc. Những điều này không chỉ đơn thuần là sự tự động lặp lại mô hình của chủ nghĩa Mao trong những năm 1930 và 1940. Trung Quốc có thể biến đổi học thuyết của Mao trong các đấu trường ngoài khơi như thế nào – và làm sao để một liên minh khó điều khiển có thể chiến thắng được chiến lược của Trung Quốc – là câu hỏi đặt ra cho những người ủng hộ tự do hàng hải.
James Holmes là Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược tại Trường Cao đẳng Hải quân Chiến tranh và đồng tác giả của cuốn “Red Star over the Pacific“. Ông đã từng là Vanbeuren Distinguished Fellow tại trường Các vấn đề công và đối ngoại thuộc đại học Georgia mùa hè này. Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân.
Bản dịch đầy đủ trên là bản được hiệu đính và bổ sung từ bản lược dịch của Trần Quang đăng trên trang Nghiên cứu Biển Đông tại http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/6707-ke-hoach-danh-chiem-bien-dong-cua-trung-quoc. Một số chú thích tài liệu tiếng Anh của tác giả đã được BTV thay thế bằng bản dịch tiếng Việt tương ứng.




Vũ Thấtchuyen




















No comments: